Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2010

Facebook trở thành 'cỗ máy' kiếm tiền như thế nào



Năm 2009 là năm đánh dấu thời kỳ bùng nổ và phát triển các mạng xã hội (social network) và các nền tảng này đã đạt được tốc độ tăng trưởng theo cấp số nhân. Hiện nay, có hơn 2/3 số người dùng Internet trên thế giới ghé thăm các trang mạng xã hội và mỗi ngày có hàng tỷ lượt truy cập vào các trang này.





Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng như vậy, nhưng làm thế nào để có được lợi nhuận vẫn là bài toán khó đối với các nền tảng mạng xã hội này. Như vậy, việc xác định các mô hình tạo lợi nhuận mới là rất quan trọng để bắt đầu chu kỳ phát triển mới của hiện tượng mạng xã hội trong năm 2010.


Nếu mọi người có thể, Facebook cũng có thể!


Facebook, được đánh giá là mạng xã hội lớn nhất thế giới, hiện đã vượt xa các nền tảng mạng khác, với hơn 350 triệu người dùng trên toàn cầu. Nếu chúng ta đánh giá xem mạng xã hội nào sẽ phát triển công thức thu lợi nhuận thành công trong năm 2010, đó chính là Facebook. CEO của Facebook là Mark Zuckerberg đã công khai thể hiện mong muốn “các mạng xã hội sẽ trở nên quan trọng như các trình duyệt và hiện điều hành,” và hy vọng đạt mục tiêu 1 tỷ người dùng trên toàn cầu trong những năm tới.



Trong khoảng thời gian chưa đầy 5 năm, Facebook đã phát triển vượt bậc, chiếm thị phần lớn và là nền tảng độc đáo. Người dùng Facebook truy cập ít nhất 1 lần mỗi ngày và dành thời gian khoảng 55 phút trên website này.



Trong khi chờ đợi biến những số liệu thống kê trên thành tiền là việc không dễ dàng, nhất là trong một ngành mà người dùng có thói quen sử dụng miễn phí - Facebook đã tiên phong trong quá trình xây dựng mạng xã hội như chúng ta đang chứng kiến.


Bước tiếp theo - thu lợi nhuận từ quảng cáo


Lâu nay, quảng cáo luôn là cách đơn giản nhất để thu lợi nhuận. Theo báo cáo của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers, trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng lợi nhuận thu được từ quảng cáo Internet trên toàn cầu là 10,9 tỷ USD, trong đó chỉ riêng Facebook ước đạt 435 triệu USD. Tuy nhiên, đối với một website với gần nửa tỷ người dùng, trong đó 1/4 dành thời gian trên mạng, thì những con số trên là tiềm năng lớn.



Trước tiên, Facebook cần phải nhận thức được mình đang kinh doanh bán quảng cáo. Khi quản lý mạng lưới quảng cáo tốt hơn, mở rộng các lựa chọn marketing thông minh và phát triển các quảng cáo mạng xã hội có thể sinh lợi thông qua thể hiện sức mạnh thương hiệu của bạn bè và các mối quan hệ, thì lúc đó Facebook mới có thể có được phần lợi trong lợi nhuận quảng cáo trực tuyến. Cuối cùng là cần tăng cường nhận thức và hiểu biết về hiệu quả quảng cáo trên Facebook trong giới lãnh đạo công ty.



Ví dụ, hiện nay mỗi lãnh đạo công ty ở Mỹ đều hiểu được giá trị khi mua các quảng cáo của Google - và điều đó không phải ngẫu nhiên mà có. Google đã hiểu được rằng những gì giúp công ty này chiếm thế thượng phong trong tìm kiếm trực tuyến sẽ không tồn tại mãi là công ty toàn cầu với trị giá gần 200 tỷ USD. Chiến lược marketing và truyền thông mạnh mẽ của Google đã hoạt động hiệu quả để đảm bảo rằng mỗi khách hàng mua quảng cáo, chiến dịch chính trị, lãnh đạo marketing và nhân viên quan hệ công chúng (public relations flack) đều nhận biết được giá trị của dịch vụ và ROI (tỷ lệ lợi tức đầu tư) mà quảng cáo Google đem lại.


Thương mại điện tử - giữ chân khách hàng


Việc ra đời Facebook với tư cách là một trang thương mại điện tử thực sự tạo ra tiềm năng kinh doanh rất lớn và có thể thay đổi vĩnh viễn cách chúng ta mua hàng truyền thống. Theo số liệu của Bộ thương mại Mỹ, các giao dịch mua bán trực tuyến (online purchase) trong ba quý của năm 2009 đạt tổng 98,3 tỷ USD. Đa số các công ty bán hàng trực tuyến đều liên quan đến hoạt động trên Facebook, tạo các giao dịch thương mại trực tiếp hoàn toàn trên Facebook sẽ thay đổi mạnh mẽ việc các công ty quảng cáo thế nào và khách hàng mua hàng trực tuyến ra sao.


Với một số điều chỉnh, các công ty có thể cung cấp kịp thời món quà sinh nhật cho bạn bè, bố trí chuyến đi du lịch, bản nhạc mới nhất của nghệ sĩ yêu thích....



Facebook có thể có doanh thu khi tính phí một phần trăm giao dịch mua bán, ấn định tỷ lệ phí nhất định cho gian hàng hoặc nhờ các hợp đồng quảng cáo tăng lên.


Quyền lựa chọn đăng ký tính phí


Trong cuộc sống, không có điều gì tốt mà hoàn toàn miễn phí. Đó chính là sự thật và là thời điểm chín muồn mà Facebook (và người dùng) cần phải đối diện trong năm 2010. Bằng việc tăng cường kinh tế quy mô (economies of scale), Facebook có thể tăng lợi nhuận mà không làm giảm lượng người dùng. Bạn sẽ trả 01 USD mỗi tháng để chia sẻ những bức ảnh có độ phân giải cao hoặc tải lên những đoạn video chất lượng tốt hơn và dài hơn? Số liệu tháng 12/2009 cho thấy có 2,5 tỷ bức ảnh được tải lên Facebook. Và rõ ràng là ngay cả khi chỉ có 1/4 người dùng đang hoạt động lựa chọn chức năng tính phí, thì điều này sẽ tạo ra thu nhập khoảng 01 tỷ USD cho Facebook mỗi năm.



Cải thiện chất lượng quảng cáo, phát triển nền tảng thương mại điện tử và bổ sung thêm các dịch vụ có tính phí không chỉ tạo cho giao dịch có lợi nhuận cao, mà còn tạo ra các dòng thu nhập như Google đã làm trước kia.


Thông tin về Facebook:


Facebook là một website mạng xã hội truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành và sở hữu tư nhân. Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường hợp và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác. Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng. Tên của website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của cộng đồng campus mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh viên mới vào trường, phòng ban, và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại khuôn viên trường.



Mark Zuckerberg thành lập Facebook cùng với bạn bè là sinh viên khoa khoa học máy tính và bạn cùng phòng Dustin Moskovitz và Chris Hughes khi ông còn là sinh viên tại Đại học Harvard. Việc đăng ký thành viên website ban đầu chỉ giới hạn cho những sinh viên Harvard, nhưng đã được mở rộng sang các trường cao đẳng khác tại khu vực Boston, Ivy League, và Đại học Stanford. Sau đó nó được mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, rồi đến học sinh phổ thông và cuối cùng là bất cứ ai trên 13 tuổi. Website hiện có hơn 350 triệu thành viên tích cực trên khắp thế giới. Facebook vừa mới qua mặt Myspace về số lượng người truy cập, khiến cho Facebook trở thành mạng xã hội phổ biến nhất, tiếp theo sau là MySpace và Twitter


Dịch thuật Việt lược dịch từ Mashable



Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

Lại nhớ về Peter Drucker



Để biết về Peter cần phải lắng nghe. Ông là bậc thầy về những văn bản tao nhã và súc tích. Tôi đã tìm hiểu về Peter Drucker suốt 4 năm qua thông qua email từ những bạn, đồng nghiệp cũ, khách hàng và gia đình.





Peter không sử dụng e-mail. Ông thích được trò chuyện trong khi nhâm nhi một ly rượu, ngồi đánh máy hay gửi fax thông qua chiếc máy đánh chữ bằng tay đã gắn bó lâu ngày với ông. Peter là bậc thầy về những văn bản tao nhã và súc tích, dù cho chủ đề có phức tạp đến đâu cũng không là vấn đề với ông.


Vị lãnh đạo uy tín Warren Bennis đã đề nghị tôi gặp gỡ với Peter. Năm 1991, lần đầu tiên tôi gặp Peter khi ông sắp bước sang tuổi 80, ông đang ngồi dựa vào cây gậy ba-toong, trên người đeo máy trợ tim và trợ thính. Peter rất có năng khiếu nói chuyện, dù cho là một hay hàng nghìn người nghe đều bị lôi cuốn bởi các câu chuyện của ông và dường như bất kỳ chủ đề nào cũng là thế mạnh của Peter.


Các câu chuyện thông qua lời kể của Peter trở nên phong phú và có hồn hơn, đồng thời ông còn duy trì danh tiếng của mình qua các bản dịch liên quan đến vấn đề kinh tế hay công nghệ toàn cầu. Những vấn đề phức tạp này được ông giải thích hết sức đơn giản, rõ ràng, và sâu sắc.



Nhà khoa học quản trị hàng đầu thế giới Peter Drucker.


Giống như nhiều người hâm mộ khác, tôi cũng ngay lập tức bị thu hút bởi bản chất tốt đẹp, kiến thức rộng lớn và vai trò vô song như một chuyên gia trong lĩnh vực quản lý và tổ chức của Peter. Tuy nhiên, Peter lại không mấy hứng thú với sự nổi tiếng của mình, điều mà thường đi kèm với việc tự cho mình là nhất. Theo quan điểm của ông, CEO và nhà quản lý chỉ trở nên vĩ đại khi họ thật sự khiêm nhường và cống hiến toàn bộ sức lực cho công việc, chứ không phải cho sự nổi tiếng. Vì thế, ông cũng đánh giá thấp đối với các CEO những người "chú trọng vào đề cao bản thân và danh tiếng".



Giản dị là yếu tố cốt lõi trong con người Peter. Peter cùng vợ của ông, Doris, sống hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ gồm hai phòng ngủ tại một khu phố trung lưu cách trường Claremont năm phút đi bộ. Cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời, Peter vẫn dạy học ở trường Quản lý Claremont, ngôi trường sau này được mang tên ông. Ông cùng Doris đã đem toàn bộ số tài sản khổng lồ tặng cho nhiều địa phương, trong khi chỉ giữ lại một căn nhà nhỏ bằng gỗ ở Estes Park, Colorado, nơi mà hai vợ chồng ông thường đến nghỉ vào mỗi mùa hè cho đến khi họ không đủ sức để đi.


Peter được biết đến như người sáng tạo của các nghiên cứu về quản lý tổ chức hiện đại, chúng được nảy mầm từ cuộc đời miệt mài học hỏi và nghiên cứu của ông - ông say mê với thực vật học, nghệ thuật Nhật bản và các thực tiễn của chủ nghĩa tình nguyện - Peter còn có một trí nhớ đáng ngạc nhiên về lịch sử của tất cả các nền văn minh, văn hoá, khoa học, kinh tế và những chu kỳ thay đổi trong bản chất con người. Khi ông giảng bài, mỗi khái niệm là một phần không thể tách dời của một bài giảng đã được chuẩn bị từ trước. Các đồng nghiệp và tôi gọi đó là những "viên ngọc" mà Peter đang xâu thành chuỗi qua các bài thuyết trình của mình khiến người nghe thật sự bị cuốn hút.


Trong hơn 10 năm đại diện cho Peter với tư cách là người quản lý bài giảng của ông, tôi đã tham gia vào soạn hàng trăm bài thuyết trình của Peter trên khắp thế giới, điều này khiến ông phải dành rất nhiều thời gian kiệt sức trên máy bay, sân bay và ở khách sạn. Bất chấp sự suy giảm về sức khoẻ do bệnh ung thư, bệnh tim và các cơn đột quỵ, Peter không bao giờ để công việc của mình bị ảnh hưởng. Ngay từ khi mới bắt đầu làm cùng Peter, tôi vẫn thường đề nghị ông từ chối những lời mời thuyết trình khi thấy chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của ông, đơn cử như khi các nhà xuất bản tại Nhật Bản yêu cầu ông thuyết trình tại năm thành phố ở Nhật Bản chỉ trong một tuần. Tôi nhận thấy việc này thật vất vả ngay cả cho những nhà thuyết trình trẻ tuổi khoẻ mạnh huống chi Peter đã ở tuổi 83.


Thế nhưng Peter không đồng ý. Cảm nhận được sự lo lắng của tôi, ông đã đề nghị tôi gặp ông tại Claremont. Cũng giống như những lần ghé thăm trước đây, buổi nói chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng một ly rượu vang. Peter kể cho tôi nghe về mẹ của ông, bà có một tiệm đồ cổ ở Vietna và bà đã giữ cho cửa hàng hoạt động đến tận khi bà 90 tuổi. Vào một buổi sáng ở cửa tiệm, bà ngối xuống, nhắm đôi mắt lại và ra đi. Peter nói: "Đó là điều mà tôi muốn làm theo. Tôi muốn được làm việc đến phút cuối của cuộc đời mình".


Sau khi rời bỏ công việc giảng dạy năm 2001, tôi đã có cuộc gặp gỡ cuối cùng với Peter. Ông vừa từ bệnh viện trở về nhà sau một cơn đột quỵ nghiêm trọng, mặc dù vậy Peter vẫn giữ được sự minh mẫn trong đôi mắt, vẫn nụ cười chiến thắng trên môi và muốn được nghe những cập nhật về cuộc sống của tôi.


Chúng tôi thảo luận về bài báo tiếp theo của ông trên Harvard Business Review. Bài báo thể hiện rõ phong cách của Peter: không bao giờ biết mệt mỏi và ngừng nghỉ. Ông cho biết ông còn một vài cuốn sách và một vài bài viết vẫn chưa xuất bản. Peter tự tin về tầm quan trọng của các bài viết và bài giảng mà ông đưa ra, xong ông lại rất khiêm tốn khi thừa nhận và thường cảm thấy không thoải mái với các vô số các danh hiệu mà ông đã nhận được. Khi được hỏi: cuốn sách nào ông tâm đắc nhất trong 33 cuốn đã xuất bản? Peter luôn luôn trả lời: "Cuốn tiếp theo".



Ngày hôm đó, cũng như mọi khi, Peter không chối bỏ sự suy yếu trong tình trạng sức khoẻ và cũng khách quan về những giới hạn của ông, nhưng cảm thấy bất ngờ và hạnh phúc khi vẫn được sống và làm việc. Tôi nhớ Peter và thường suy ngẫm về tất cả những gì ông đã dạy tôi, không chỉ về các kinh nghiệm tổ chức và lịch sử văn minh nhân loại, mà còn về cách làm thế nào để sống một cuộc đời ý nghĩa với lòng nhiệt huyết khám phám và học hỏi.



Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

LinkedIn thay đổi giao diện bảng tìm kiếm



LinkedIn sẽ sớm đưa vào sử dụng giao diện duyệt liên hệ mới tiện lợi và dễ sử dụng khi bạn muốn tìm kiếm dòng thông tin. Theo Mashable thì phiên bản cập nhật này bổ sung thêm một bảng tìm kiếm cho phép bạn duyệt các mối liên hệ (contacts) theo công ty, ngành hoặc địa điểm.





Bạn cũng có thể tìm kiếm bạn bè, nhà tuyển dụng...theo các thẻ (tag) mà bạn định nghĩa cũng như truy vấn các hoạt động gần đây (recent activity). Giao diện có một trường tìm kiếm, ở đó bạn có thể giới hạn những thứ cần tìm bằng cách nhập tên hay các thông tin có thể xuất hiện trong tiểu sử liên hệ(contact’s profile).



Khi bạn duyệt đến một người cụ thể và lúc đó có một tiểu sử mini xuất hiện ở bảng ngoài cùng bên phải, lúc này bạn sẽ tìm thấy thông tin liên hệ, ảnh, vị trí hiện tại và số lượng các mối liên hệ (connections). Bạn cũng có thể bổ sung hoặc bỏ đi các thẻ cho liên hệ đó khi xem tiểu sử mini.



Gần đây, LinkedIn cũng tiến hành thiết kế lại các phần chính cho cả website và ứng dụng trên iPhone. Kết hợp các thay đổi này, cùng với bảng tìm kiếm mới và tính năng tìm kiếm theo các bộ lọc (dựa trên 8 mặt chính: công ty hiện nay, công ty trước kia, địa điểm, mối quan hệ, địa điểm, ngành, trường học và ngôn ngữ), bạn sẽ có các công cụ mạnh mẽ để tìm kiếm những gì bạn cần và những người bạn cần trong số các mối liên hệ nghề nghiệp của mình.



Với tư cách là người dùng, chúng ta luôn trông đợi các tính năng mới ở các website cùng loại, nhất là Facebook vốn đang gặp phải những lỗi lớn ở cả giao diện tìm kiếm và kết quả. Facebook nên học hỏi điều này từ LinkedIn.



Dưới đây là giao diện bảng tìm kiếm mới của LinkedIn.



(Nguồn: Mashable)

Vài nét về LinkedIn


LinkedIn là một mạng thương mại điện tử, chủ yếu được sử dụng như một mạng chuyên nghiệp. Đến tháng 11 năm 2007, nó đã có đến hơn 16 triệu thành viên, nối kết 150 ngành công nghiệp và hơn 400 lĩnh vực kinh tế. Giám đốc Điều hành của LinkedIn là Dan Nye.
Giám đốc Điều hành trước đây, người đã thành lập LinkedIn là Reid Hoffman, là cựu Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Paypal. LinkedIn có trụ sở tại Mountain View thuộc California, được tài trợ bởi Greylock, Sequoia Capital, các cổ đông Bessemer Venture và các nguồn tài trợ Châu Âu. Từ tháng 3 năm 2006, LinkedIn đã bắt đầu thu được lợi nhuận.


Dịch thuật Việt theo Mashable và Tuần Việt Nam



Sức mạnh mềm - nhìn từ chuyện nhỏ



Lâu nay “sức mạnh mềm”, một khái niệm trong chính trị học và quan hệ quốc tế, được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng tới thực thể khác thông qua sức hấp dẫn và hợp tác chứ không phải bằng vũ lực hay tiền bạc.





Sức mạnh mềm của một quốc gia xuất phát từ văn hóa, hệ giá trị và chính sách. Khái niệm này thường chỉ đường lối ngoại giao của các cường quốc như Mỹ, Anh áp dụng để gây ảnh hưởng tới các nước khác thông qua hoạt động văn hóa, phim ảnh, âm nhạc, mạng lưới truyền thông... “Sức mạnh mềm” của người Mỹ trở thành những biểu tượng văn hóa, như Levi’s, Coca-Cola, Mc Donald’s, Microsoft, CNN, Hollywood hay nhạc hip-hop...


GS. Joseph Nye, cha đẻ của học thuyết "Sức mạnh mềm" đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, cho rằng, Việt Nam mặc dù là nước nhỏ nhưng đang có rất nhiều cơ hội để gia tăng thứ quyền lực mềm dẻo này. Cụ thể, Việt Nam là nước đang phát triển có tăng trưởng kinh tế khá và có thái độ tích cực trong vấn đề biến đổi khí hậu, chủ đề đang thu hút sự quan tâm của toàn thế giới.



Nhiều nước trong khu vực cũng đang định hình sức mạnh mềm của riêng mình. Trung Quốc đã đầu tư khổng lồ xây 200 học viện Khổng Tử tại các nước khác, thu hút sinh viên quốc tế đến nước này học tập, tổ chức Olympic hoành tráng... Đối với Hàn Quốc, sự thật về một xã hội mở - cho phép đưa ra các chỉ trích và tranh cãi - đã khiến cho nước này trở nên thu hút hơn đối với thế giới.



GS. Joseph Nye, cha đẻ của học thuyết "Sức mạnh mềm" đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia.


Bên cạnh đó, những nét quyến rũ của văn hóa Hàn được chính phủ nước này chú trọng phát triển. Cuối thập kỷ 1990, châu Á đã chứng kiến sự “lên ngôi” của "Hallyu"- hay còn gọi là "làn sóng Hàn Quốc" - xu hướng chuộng tất cả mọi thứ từ thời trang cho tới phim ảnh, âm nhạc, ẩm thực có xuất xứ từ Hàn Quốc. Nước Singapore nhỏ bé đã rất thành công với thương hiệu “Thành phố tốt nhất trên thế giới để sống và làm việc”, một xã hội trong sạch cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng...



Cũng như vậy, không phải phải thiết lập các kênh truyền thông khổng lồ, cũng không phải là các trung tâm văn hóa mở rộng khắp thế giới, đối với Việt Nam, xây dựng quyền lực mềm, theo GS. Nye, là đơn giản chọn đầu tư vào các dự án tốt cho tương lai, đồng thời tạo danh tiếng. Ví dụ, Việt Nam cần kiên quyết nói “không” với các “dự án bẩn”, các dự án hủy hoại môi trường, nếu không sẽ bị ảnh hưởng đến phát triển kinh tế cũng như danh tiếng.


Mỗi quốc gia đều có thể xây dựng sức mạnh mềm theo cách riêng của mình. Nhưng trên hết, đó phải là sự trung thực với chính mình, và quan trọng hơn, theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: “Sức mạnh mềm là điều cần học cho cả quốc gia và càng quan trọng với các nhà lãnh đạo. Một quốc gia có lãnh đạo học hỏi nhanh thì sẽ lãnh đạo quốc gia hiệu quả”. Chưa thể bàn đến sức mạnh mềm khi lực cản tham nhũng, lãng phí, nói không đi đôi với làm vì không chỉ làm nghèo đất nước mà còn xói mòn lòng tin trong và ngoài nước. Thay vì tính tới chuyện gây ảnh hưởng cho những người khác, trước hết hãy tính chuyện thoát khỏi những gông cùm của những thói xấu đang nằm trong chính bản thân mình.


Bàn về chuyện sức mạnh mềm cũng có thể hiểu như chuyện chúng ta đang nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia - chứa đựng trong nó những giá trị của những thương hiệu nhỏ hơn, của mỗi người dân, của mỗi doanh nghiệp. Thay vì nghĩ đến chuyện chinh phục những thị trường rộng lớn, hãy nghĩ đến chuyện hấp dẫn và thuyết phục thị trường trong nước bằng những sản phẩm, dịch vụ chất lượng tốt như đúng cam kết. Có doanh nghiệp tuyên bố về “quyền lực cà phê Việt Nam” như một trung tâm cà phê của thế giới, nhưng mọi chuyện mới chỉ dừng lại ở việc tuyên bố. Những tuyên bố không được thực hiện vô tình làm xói mòn cả niềm tin mà doanh nghiệp này đã gây dựng bấy lâu.


Trong khi đó, nhãn hiệu cà phê Starbucks chinh phục thị trường thế giới chỉ bằng hai quan điểm đơn giản: là nơi chốn thứ ba và cam kết cung cấp cà phê tươi. Chốn thứ ba là nơi mọi người lui tới bên cạnh hai nơi chốn là gia đình và công sở. Cà phê tươi là cà phê Arabica được rang xay và sử dụng trong vòng một tuần. Trước sau như một chỉ là quan điểm đơn giản đó. Hành động không khác hơn những gì đã nói.




Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

YouTube bắt đầu cho thuê phim



Hôm nay, YouTube-trang chia sẻ video của Google, bắt đầu cho thuê phim với số lượng rất hạn chế, cho phép người dùng thuê 05 phim được chiếu tại Liên hoan phim Sundance (Sundance Film Festival) khi sử dụng tài khoàn Google Checkout. Google cũng cho biêt thêm: “Một số lượng nhỏ phim cho thuê của các đối tác tại Mỹ thuộc nhiều ngành khác nhau như y tế và giáo dục sẽ được thực hiện trong những tuần tới đây.”





Tháng 9/2009, YouTube đã tiến hành các cuộc đàm phán với nhiều hãng phim nhằm cho thuê lại những bộ phim ăn khách giống như mô hình mà Netflix, Apple và Amzone đang cho thuê online hiện nay. Điều này còn lâu mới đạt được, nhưng đó sẽ rất quan trọng với tương lai của YouTube. Đừng quên là YouTube cũng đang xúc tiến xem phim với định dạng HD (high definition - độ nét cao).



Chậm, nhưng chắc. Chúng ta trông đợi YouTube sẽ tiếp tục theo hướng này và các bước tiếp theo như tường thuật trực tiếp các trận thi đấu thể thao và phim dài tập.


Thông tin thêm về quá trình đàm phán của YouTube


YouTube từng làm việc với hãng Warner Bros và được đăng tải nhiều clip từ các bộ phim và chương trình truyền hình do hãng này sản xuất, như Gossip Girl và show Ellen DeGeneres. Warner từ chối cho tải cả tập phim lên mạng. Tờ Wall Street Journal đưa tin, YouTube đang đàm phán với các công ty Lions Gate, Sony, MGM. Hai hãng lớn ở Hollywood và nổi tiếng chặt chẽ trong vấn đề bản quyền là Disney và Fox vẫn đứng ngoài những cuộc thương lượng này.



Hãng Paramount của công ty Viacom (với những bộ phim như Iron ManTransformers) thẳng thừng từ chối đề nghị của YouTube và công ty mẹ Google. Viacom đang kiện họ suốt hai năm qua, đòi bồi thường 1 tỷ USD thiệt hại vì YouTube đang tải các chương trình truyền hình mà không xin phép.



Trong tình hình đĩa DVD bán chậm như hiện nay, các công ty như Sony và Warner Bros cũng đang tìm những hướng kinh doanh phim mới. Họ có thể sẽ hợp tác với YouTube, nhưng không áp dụng với những bộ phim bom tấn.



Joe Flint, phóng viên tờ Los Angeles Times cho rằng, làm ăn với YouTube chỉ có giá trị kinh tế trong thời gian hiện nay, khi YouTube có khán giả, cần nội dung, còn Hollywood có nội dung, cần tiền. Nhưng Hollywood sẽ phải ân hận như các ông trùm giới thể thao từng quyết định trao hết quyền phát sóng các trận đấu cho kênh ESPN cách đây 30 năm. Joe viết: “Nếu hỏi một doanh nhân kỳ cựu trong nền công nghiệp thể thao rằng điều gì khiến họ hối hận nhất, chắc chắn câu trả lời sẽ là họ tiếc vì không xây kênh ESPN của riêng mình. Về lâu dài, các hãng phim sẽ phải tiếc nuối nếu không xây dựng cơ sở kinh doanh để vừa là nhà sản xuất, vừa làm nhà phân phối”.


Dịch thuật Việt theo MashableVnExpress



Apple đàm phán với Microsoft thay thế Google trên iPhone



Apple Inc. đang có các cuộc đàm phán với Microsoft để thay thế máy tìm kiếm mặc định Google trên iPhone. Các cuộc thảo luận đã diễn ra mấy tuần nay, có thể chưa đi đến thống nhất ngay và có những điểm chưa ngã ngũ.





Các cuộc thảo luận này cho thấy sự cạnh tranh giữa Apple và Google ngày càng gay gắt. Hiện nay, Google là máy tìm kiếm chính trên điện thoại iPhone của Apple. Trước đó, hai công ty đã từng hợp tác với nhau và CEO (giám đốc điều hành) của Google là Eric Schmidt nằm trong hội đồng quản trị của Apple; bây giờ thì cả hai đang cạnh tranh nhau trên thị trường về mảng di động. Đầu tháng này, Google đã trình làng chiếc điện thoại di động của mình có tên Nexus One và cung cấp hệ điều hành di động có tên là Android.


Theo James McQuivey, chuyên gia phân tích tại Cambridge của công ty nghiên cứu Forrester: “Xét về chừng mực nào đó, điều này ảnh hưởng đến Google và thương vụ này sẽ tốt cho Apple”.


Hiện nay, Apple đang tìm cách quản lý quảng cáo hiển thị trên điện thoại của mình và động thái này sẽ tác động đến hoạt động quảng cáo của Google.


Cổ phiếu của Microsoft, hãng sản xuất phần mền lớn nhất thế giới, đã tăng 24 cent, đạt 31,10 USD/cổ phiếu ngày hôm qua (19/01/2010). Đầu năm nay, cổ phiếu của hãng đã tăng 2%. Cổ phiếu của Apple tăng 9,11 USD, tương đương 4,4, lên mức 215,04 USD/cổ phiếu và cũng đạt mức tăng trưởng 2% năm nay. Google có mức tăng 7,62 USD đạt 587,62USD/cổ phiếu.



Chọn Bing làm công cụ tìm kiếm mặc định



Thỏa thuận giữa Apple và Microsoft có thể sẽ cho phép người dùng điện thoại iPhone tự động nhận Bing làm máy tìm kiếm chính, có thể yêu cầu người dùng chủ động thay đổi các thiết lập để tìm kiếm có sử dụng Google.


Google hiện là công cụ tìm kiếm mặc định trên iPhone. Để tìm kiếm qua Bing, người dùng phải truy cập vào website của Bing qua trình duyệt của điện thoại hoặc tải xuống ứng dụng riêng của Bing.


Là công cụ tìm kiếm mặc định trên iPhone, Google thu được các khoản lợi nhuận từ các mẩu quảng cáo bố trí gần các kết quả tìm kiếm. Để thúc đẩy và tăng cường thương vụ, Microsoft có thể sẵn sàng chia sẻ lợi nhuận với Apple. Apple và Google không tiết lộ các điều khoản tài chính trong quá trình hợp tác về tìm kiếm vừa qua.



Thị phần



Khi Bing được chọn là công cụ tìm kiếm chính trên iPhone, Microsoft sẽ có thêm thị phần cho Bing. Theo số liệu của công ty nghiên cứu thị trường Nielsen, thị phần tìm kiếm trong tháng 11 năm 2009, Google chiếm 86% và Bing chiếm 11%.


Dịch thuật Việt lược dịch từ BusinessWeek



E-Marketing: Đường tắt tới thị trường



Trong hai năm trở lại đây, Việt Nam chứng kiến sự bùng nổ của các hình thức xã hội ảo, từ bộ lọc xã hội (social filtering), nguồn dữ liệu từ đám đông (crowd sourcing), bộ đánh dấu xã hội (social book marking), đến các blog và tiểu blog (microblogging) như myspace.com, facebook.com, zing.vn, yume.vn, tamtay.vn, abviet.com.





Đây là công cụ mới để doanh nghiệp và những người làm tiếp thị tiếp cận với thị trường và khách hàng mục tiêu thông qua các hình thức marketing trực tuyến (E – marketing).


Lợi thế của doanh nghiệp ngoại


Theo ước tính, năm 2010, tỷ trọng đầu tư vào Internet Marketing trong tổng ngân sách tiếp thị tiếp tục được dự báo tăng mạnh tại nhiều quốc gia phát triển. Riêng các doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư 7 – 10% ngân sách marketing cho tiếp thị trên internet. Tại buổi nói chuyện về “Xu hướng Internet Marketing 2010”, ông Đỗ Hải, Ths. Marketing cho biết: “Khó khăn về kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn xu hướng marketing trực tuyến tại Việt Nam trong những năm qua.


Mặt khác, do internet đang có tốc độ tăng trưởng cao, nên các doanh nghiệp tiêu dùng nhanh cũng đẩy mạnh các hình thức tiếp thị qua internet với nhóm khách hàng tiềm năng là giới trẻ, nhân viên văn phòng. Một ưu điểm khác là marketing trên internet không phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tiến hành hoạt động marketing và trao đổi với khách hàng trên toàn thế giới”.


Tuy có nhiều lợi thế, hiệu quả tiếp thị khả quan, nhưng theo báo cáo của Hiệp hội Tiếp thị Kỹ thuật số Châu Á (ADMA), tổng doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam năm 2008 ước khoảng 2% tổng doanh thu ngành quảng cáo. Đây là một tỷ lệ rất thấp nếu so sánh với các quốc gia phát triển (Anh gần 27%, Mỹ hơn 20%). Tại thị trường Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp trong nước còn đang bối rối với internet marketing thì các công ty nước ngoài đã rầm rộ triển khai nhiều quảng cáo trực tuyến, nhất là các “đại gia” về tiêu dùng nhanh như Unilever, P&G với các đợt như Sunsilk – Sống là không chờ đợi, Môi xinh LipIce, Heineken chúc mừng năm mới…



Ông Trương Văn Quý, Giám đốc Công ty cổ phần Phát triển Công nghệ và Truyền thông EQ lý giải: “Sở dĩ các doanh nghiệp Việt Nam còn ngại khai thác internet marketing vì chưa nhìn ra cơ hội của hình thức tiếp thị này. Trong nhận thức của nhiều doanh nghiệp, môi trường internet vẫn còn khá mơ hồ và thiếu thực tế.


Đây là một lối suy nghĩ đã có từ nhiều năm trước, các doanh nghiệp đã từng nghe hô hào rất nhiều về thương mại điện tử, kiếm tiền qua mạng nhưng thực chất chỉ là khẩu hiệu. Nhưng quan trọng hơn, các doanh nghiệp Việt Nam thiếu kiến thức và nhân lực để triển khai internet marketing. Một số doanh nghiệp trẻ, năng động, dù đã nhìn thấy cơ hội nhưng lại không biết khai thác như thế nào. Internet marketing là một loại hình tiếp thị mới mẻ và gắn liền với yếu tố công nghệ, nên nhiều doanh nghiệp và nhiều người làm marketing tỏ ra e ngại để tìm hiểu lĩnh vực này”.


Bên cạnh đó, theo nhiều phân tích, người dùng internet ở Việt Nam là quá trẻ, với khoảng 80% người dùng internet ở dưới độ tuổi 30 (và 70% trong đó là dưới 24 tuổi). Thực tế, đây không phải là khách hàng tiềm năng của nhiều doanh nghiệp. Cũng là một yếu tố tương đồng khi phần lớn những người chủ, những người quản lý trong các doanh nghiệp Việt có độ tuổi hơi cao nên họ không hòa đồng và hiểu được những hoạt động hằng ngày của cư dân mạng, điều đó làm họ rất e ngại khi quyết định phân bổ ngân sách cho hoạt động này.


Khảo sát cũng cho thấy, các công ty quảng cáo của Việt Nam hiện nay cũng chưa đủ kinh nghiệm trong lĩnh vực này, họ chỉ quen với cách tiếp thị truyền thống, nên không thể tư vấn cho khách hàng tiếp thị online một cách đầy đủ. Tình hình này có thể sẽ nhanh chóng được cải thiện khi hiện tại đã có nhiều công ty Việt Nam và nước ngoài cùng đầu tư khai thác internet marketing.


Bao giờ là công cụ doanh nghiệp nội?


Để tiếp thị trên internet hiệu quả, theo ông Chris Trần Hữu Luật, Giám đốc Công ty Admax Network, khi quảng cáo trên internet, thông tin không nên quá phức tạp và khi thiết kế nên để rõ nhãn hiệu, bởi một số doanh nghiệp chỉ quảng cáo hình ảnh nên người tiêu dùng không biết quảng cáo của công ty nào. Chẳng hạn, mẫu quảng cáo của một ngân hàng lớn khiến người tiêu dùng hiểu nhầm là quảng cáo du lịch.


Ông Quý cũng cho rằng: “Muốn quảng cáo trên internet hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải chuẩn bị kiến thức và nhân lực. Dù rằng đã có những công ty chuyên về cung cấp dịch vụ về internet marketing, nhưng nếu doanh nghiệp không hiểu biết đủ về lĩnh vực này, chắc chắn sẽ không thể khai thác hay đầu tư cho nó một cách hiệu quả. Các doanh nghiệp nên có chính sách đào tạo nhân sự chuẩn bị cho sự hội nhập sâu hơn vào thế giới internet. Kế tiếp, hãy chuẩn bị lại các thông điệp marketing một cách chi tiết và cụ thể làm tiền đề cho việc xây dựng hoặc chỉnh sửa lại trang web trước khi thực hiện các kế hoạch truyền thông mới trên internet”.


Tiếp thị, quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam chưa phát triển tương xứng với thị trường internet rộng lớn với hơn 20 triệu người sử dụng, tức 20 triệu khách hàng tiềm năng. Chủ yếu hiện nay vẫn là quảng cáo dạng banner/pop-ups hay mua từ khóa của công cụ tìm kiếm, nhưng còn rất nghèo nàn, đơn điệu về hình thức, cũng như thiếu chuẩn hóa (ví du:ï chuẩn Display Impressions năm 2003 hay Digital Video Impressions năm 2006 như của IAB, Mỹ).


Những hình thức tiếp thị, quảng cáo trực tuyến khác còn sơ khai và chưa thực sự được sử dụng rộng rãi trong giới làm tiếp thị tại Việt Nam. Theo ông Aaron Cross, Giám đốc điều hành Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen Vietnam, do tính chất phân nhánh mạnh mẽ của internet, các nhà làm tiếp thị dễ bị rơi vào cảnh không nhận biết được phân khúc thị trường và khách hàng mục tiêu để quảng cáo. Chưa kể đa số người sử dụng internet Việt Nam là giới trẻ đã không hấp dẫn nhiều doanh nghiệp có sản phẩm nhắm vào phân khúc khách hàng lớn tuổi hơn.



Chính vì vậy, doanh nghiệp nên nghiên cứu lại cách tiếp thị với sự bổ sung của internet, sau đó lập ra kế hoạch hành động cụ thể để tranh thủ ngay các cơ hội mới. Xác định lại khách hàng mục tiêu ở đâu trên internet cũng là một việc làm quan trọng trong giai đoạn này.


Nguồn: Saga



Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Nguyên tắc SMART trong kinh doanh



Cuộc sống ngày nay với sự đòi hỏi ngày càng cao trong công việc bắt buộc chúng ta phải có kỹ năng làm việc tốt để có thể thích nghi được với nó, đạt được kết quả cao trong công việc cũng như cân bằng được cuộc sống cá nhân và gia đình. Tuy nhiên, với quỹ thời gian bất biến thì không phải lúc nào chúng ta cũng có thể giải quyết hài hoà được việc này.





Mỗi ngày có 24 tiếng, một tuần có 7 ngày, 1 tháng có 30 ngày và một năm qua đi chỉ sau 365 ngày. Vậy thì tại sao trong một chừng mực thời gian nhất định, có người chẳng làm nên trò trống gì trong khi một số người làm được vô khối việc lớn lao to tát? Phải chăng họ có một khả năng siêu phàm và quỹ thời gian nhiêu hơn so với những người bình thường khác?



Quỹ thời gian của mọi người là như nhau, vì thế, câu trả lời không nằm ở chỗ chúng ta có bao nhiêu thời gian để làm các công việc đó như thế nào cho hiệu quả. Đa số các chuyên gia về quản lý nhân sự cho rằng để sử dụng thời gian của mình một cách tốt nhất, trước hết, mỗi cá nhân phải nhận định năng lực làm việc của bản thân dựa trên phân tích những điểm mạnh, điểm yếu đối với công việc mình đang đảm nhiệm, từ đó mà biết mình mong muốn điều gì trong sự nghiệp ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai. Đây chính là công việc đặt cho bản thân mình một mục tiêu để hướng tới. Làm thế nào để xác định được mục tiêu chính xác? Trong kinh doanh hiện đại, người ta thường đề cập đến nguyên tắc SMART, tức là mục tiêu được xây dựng dựa trên những tiêu chí sau:


* S-Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu.



* M-Measurable: Đo đếm được.



* A-Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình.



* R-Realistic: Thực tế, không viển vông.



* T-Time bound: Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra.



Trong đó, tiêu chí “đo đếm được” gắn với những con số cụ thể. Ví dụ, mục tiêu của tôi là trở thành người giàu, vậy giàu thế nào? Nghĩa là cần phải có con số cụ thể để đo đếm được. Ví dụ một tỷ hay mười tỷ... Hơn thế nữa, chữ “M” còn mang tính động viên (Motivation), điều này sẽ luôn thôi thúc, tạo ra niềm mong muốn cháy bỏng để tập trung mọi hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu nỗ lực phấn đấu để đạt được.



Cũng đối khi người ta nhầm lẫn giữa chữ “A” và chữ “R”. Tuy nhiên, điều “có thể thực hiện được” không đồng nhất với “thực tế”. Một người được mời về làm giám đốc tài chính ngân hàng thương mại cổ phần, bằng cấp chuyên môn và kinh nghiệm điều hành đều siêu hạng (A) mà không có “Chân” trong hội đồng quản trị (R) thì không thể có cơ hội trở thành tổng giám đốc của ngân hàng đó được. Từ ví dụ này có thể hiểu, nếu có đầy đủ điều kiện thuộc tiêu chí A mà thiếu đi tiêu chí R thì không thể đạt được mục tiêu. Điều này còn đúng hơn trong đời sống chính trị.



Bước tiếp theo sau khi xác định được Mục tiêu SMART là hãy viết mục tiêu đó ra giấy, đặt trên bàn làm việc hay bất cứ chỗ nào mà bạn có thể nhìn thấy hàng ngày. Cách này giúp bạn luôn nghĩ đến nó và thúc đẩy bạn hành động hướng tới mục tiêu đề ra.



Sau đó, hãy lập kế hoạch chi tiết để thực hiện. Như vậy, bạn sẽ tính được mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm bạn sẽ phải kiếm được bao nhiêu và rồi lên kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu đó, mỗi năm phải tiết kiệm mấy chục triệu, khi nào mua đất,cất nhà. Trong khi lập kế hoạch, cần thiết phải chia nhỏ mục tiêu ra để biết con đường bạn đi bao xa, bạn đã đi được chừng nào (đạt được bao nhiêu % kế hoạch) và tiếp tục bao lâu nữa để về đích.



Điều này cũng giống như tầm quan trọng của những cột cây số khi đi trên đường vậy. Khi đó bạn sẽ biết hôm nay, ngày mai rồi tháng này và năm này phải làm gì. Tốt nhất, nên viết sơ đồ phân tích công việc hàng ngày để biết việc gì cần làm trước, việc gì làm sau, việc gì là quan trọng (important) và việc gì gấp, cần làm ngay (urgent). Tâm lý chung của chúng ta là việc gì dễ và thích thì làm trước, việc khó và không thích thì để lại làm sau..



Thật tệ hại là việc khó càng để lâu, càng khó thực hiện và đôi khi việc gấp lại không hề quan trọng. Hãy liên tưởng tới câu chuyện về chiếc bình và những viên sỏi, nếu ngay từ đầu bạn cho vào chiếc bình đầy cát thì sẽ không có cách nào để xếp những viên đá hoặc sỏi vào đó nữa nhưng khi bạn xếp lần lượt đá-sỏi-cát, bạn còn chứa được cả nước cùng trong một chiếc bình. Vấn đề quan trọng không phải chiếc bình chứa được bao nhiêu thứ mà quan trọng là bạn phải biết phân biệt được công việc nào là khó “đá hộc” và đâu là những viên sỏi hay cát trong cuộc đời, biết cách quản lý thời gian hiệu quả để cân bằng cuộc sống.



Cách quản lý thời gian hiệu quả thường được nhìn nhận từ 2 khía cạnh, người quản lý và nhân viên.



Tại sao người chủ doanh nghiệp luôn cảm thấy thiếu thời gian và quá tải về công việc? Thường thì mức độ quá tải công việc của người quản lý tuỳ thuộc vào quá trình hình thành, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh. Tuy nhiên, tâm lý chung của người lãnh đạo là luôn không hết việc. Những người tham công tiếc việc, làm việc đến 18 tiếng một ngày họ vẫn cảm thấy chưa đủ, đôi khi họ ao ước “phải chi 1 ngày có 25 tiếng, 1 tuần có 8 ngày và 1 năm có 366 ngày...” và họ luôn phạm phải một tội là “lấy cắp thời gian của gia đình”.



Vậy có phương pháp nào để cân bằng thời gian cho công việc, nghỉ ngời giải trí và cho gia đình? Với một doanh nghiệp mới ra đời thì hoàn toàn có thể chấp nhận được với sự quá tải về công việc và luôn phải làm thêm rất nhiều tiếng trong một ngày đối với người lãnh đạo. Nhưng tình trạng đó không thể kéo dài mãi, mấu chốt đầu tiên là người chủ doanh nghiệp phải biết cách xây dựng hệ thống, qui trình làm việc, tiếp theo là xây dựng ngay đội ngũ kế cận.



Tiếp đến là phân quyền cho nhân viên thì đòi hỏi phải thật rõ ràng cụ thể, phải đặt niềm tin vào người được giao việc và hãy lùi lại phía sau để nhân viện có sự chủ động trong giải quyết công việc. Nếu các cấp quản lý bên dưới giải quyết các sự vụ tốt thì người lãnh đạo sẽ yên tâm làm những việc “khó” đúng vai trò của mình. Vì thế, điều quyết định hiệu quả quản lý thời gian của người lãnh đạo chính là hiệu quả làm việc của đội ngũ nhân viên.



Ở khía cạnh nhân viên, để thời gian làm việc đạt hiệu quả cao nhất, nhân viên phải xác định được mục tiêu của mình, biết lồng ghép mục tiêu cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp để lên kế hoạch công việc của bản thân. Người quản lý nên hướng dẫn nhân viên xây dựng một mục tiêu Smart, sau đó cùng thống nhất nhau về mục tiêu đó. Khi đã có được sự đồng thuận giữa nhân viên và cấp quản lý thì việc còn lại chỉ là lên kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu đề ra.



Việc phân biệt cái Important và cái Urgent đối với nhân viên không quan trọng như với người quản lý vì công việc của nhân viên thường theo chuyên môn cụ thể và ít những vấn đề phát sinh. Thay vào đó, tính kỷ luật về thời gian với bản thân là thứ cực kỳ quan trọng. Vì vậy, khi đã thống nhất về mục tiêu giữa cấp quản lý và nhân viên đó sẽ có động lực làm việc và họ sẽ tận dụng tối đa thời gian làm việc để đạt mục tiêu.




Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Những xu hướng truyền thông năm 2010



Năm 2010 có thể là năm chứng kiến sự bùng nổ trong ngành công nghiệp truyền thông. Đặc biệt, đây sẽ là một năm phát hiện thêm các xu hướng truyền thông lớn. Một số xu hướng lớn trong truyền thông thế giới năm 2010.





1. Nâng cấp biện pháp đánh giá hiệu quả truyền thông



Thông thường, quan hệ công chúng phụ thuộc chủ yếu vào đơn vị tiền để tính giá trị vị trí bài viết có được trên kênh truyền thông. Đơn vị này được gọi là AVE (đơn vị tương đương trị giá quảng cáo).



Trên cơ sở các xu hướng toàn cầu và nghiên cứu của mình, tôi tin rằng chúng ta sẽ bắt đầu học theo Mỹ và Canada trong lĩnh vực này, trong việc nhận ra biện pháp đo lường định tính cho truyền thông.



Chúng ta đã chứng kiến các hãng chuyên làm truyền thông trên toàn cầu (bằng cách tập hợp các bài báo đã đăng) mua các công ty đánh giá hiệu quả truyền thông. Điều này cho thấy những gói dịch vụ họ đưa ra giờ không chỉ là đánh giá hiệu quả về mặt định lượng.



Vào trung tuần tháng 10, Ủy ban Đo lường thuộc Viện Quan hệ Công chúng (IPR) đã bỏ phiếu về những xu hướng tương lai trong việc đánh giá hiệu quả truyền thông - với tỷ lệ 19/2, để “loại bỏ đơn vị AVE, khái niệm và cả thực tế”. Tất nhiên, vẫn còn tranh luận rất nhiều xung quanh vấn đề này, nhưng rõ ràng là đã có một cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này.



2. Khảo sát các biện pháp đánh giá truyền thông mới



Các công ty, người dân, các nhà quảng cáo, những người làm marketing và các hãng truyền thông sử dụng mạng xã hội và truyền thông xã hội ngày càng nhiều. Cũng trong năm 2010 nhu cầu của việc đánh giá hiệu quả truyền thông trực tuyến của hoạt động kinh doanh sẽ vô cùng cấp thiết.



Tôi không nói về giá trị của đồng tiền - vốn dĩ nó không thật sự có nhiều ý nghĩa trong không gian này, mà là các mục tiêu dựa trên các kết quả cần đạt được trong chiến lược của các hãng trong việc liên kết với truyền thông xã hội. Điều này sẽ đồng nghĩa với việc thiết lập nên các hệ đo lường mới để đánh giá.



3. Sử dụng truyền thông xã hội trong doanh nghiệp



Trong khi không có gì thực sự mới về truyền thông xã hội, thì việc sử dụng nó trong doanh nghiệp như một công cụ kết nối với nhu cầu giao tiếp nội bộ, đang bắt đầu hình thành. Một số công ty bắt đầu thử ứng dụng, nhưng còn ít và chưa tận dụng tối đa khả năng của truyền thông xã hội trong tổ chức.



Nếu công ty bạn đang làm việc chưa sử dụng nền tảng này để thu hút sự tham gia của nhiều thành phần nội bộ, thì tôi nghĩ rằng họ sẽ sớm triển khai. Đơn giản là bởi không ai có thể bỏ qua xu thế này. Và nếu bạn bỏ qua, chắc chắn rằng đối thủ của bạn sẽ không làm vậy. Điều quan trọng là các công ty cần bắt đầu thiết lập các chính sách và quy định để sử dụng nó. Không còn tồn tại kiểu tư duy “có cũng được”. Các doanh nghiệp cần có một định hướng và mục đích chiến lược rõ ràng.


4. Tận dụng truyền thông số cùng với truyền thông truyền thống



Một số người vẫn nghĩ rằng truyền thông số sẽ thay thế hoặc bỏ xa truyền thông truyền thống. Tôi cho rằng điều này không xảy ra trong năm 2010, trên thực tế, hai loại hình truyền thông này sẽ bổ trợ cho nhau. Loại hình truyền thông mạnh nhất sẽ là những loại hình có quan hệ đối tác với truyền thông xã hội và theo đuổi những gì mà họ cần phải thực hiện.



5. Các phương tiện truyền thông nội bộ



Trong tổ chức cũng gây dựng các phương tiện truyền thông nội bộ. Quá nhiều công ty vẫn giữ cách hiểu rằng truyền thông nội bộ chỉ là những tin thư, mạng hoặc tạp chí nội bộ - và một số kết hợp các hình thức trên.



Các phương tiện truyền thông sẽ phải được sử dụng sáng tạo để gắn kết trái tim và trí óc của mọi thành viên trong nội bộ tổ chức và thu hút mọi người tham gia vào định hướng của tổ chức. Điều này đồng nghĩa với việc mở rộng phạm vi và phân tích loại phương tiện truyền thông nào hoạt động hiệu quả nhất, và ở những lĩnh vực nào.



6. Truyền thông tích hợp trên nền tảng các phương tiện di động



Cho đến nay, các nền tảng di động chưa được đánh giá xứng đáng với khả năng tiếp cận một lượng độc giả to lớn. Truyền thông trên các phương tiện như điện thoại di động sẽ là một trong những công cụ phát triển nhanh nhất để truyền tải nội dung đến người tiếp nhận, và truyền thông sẽ cần phải tìm tòi thêm các cách thức kết hợp kênh này với sản phẩm của họ. Một số hoạt động kết hợp đã đạt được thành công, nhưng chúng ta sẽ cần thêm nhiều thành công hơn nữa.



7. "Người tiêu dùng thông tin" sẽ cùng biên tập viên tạo ra nội dung



Đầu năm nay một trang web cá nhân tại Mỹ đã đã đưa ra thuật ngữ “curated information” - hợp nhất một lượng lớn thông tin trên web và sắp xếp quản lý chúng. Biên tập viên không chỉ biên tập tin mà sẽ cùng tạo ra các câu chuyện với độc giả. Điều quan trọng nhất là, họ sẽ tạm thời xử lý thông tin đó thành dữ liệu ở dạng có thể quản lý được. Nói một cách khác, họ sẽ “tạo ý nghĩa” thông tin cho cộng đồng của mình.



8. Marketing muốn dùng truyền thông để đối thoại


Trong khi marketing truyền thống đang tập trung tăng cường nhận thức thông qua cách tiếp cận một hoặc hai chiều, thì chúng ta có thể nhận thấy một sự chuyển đổi sang cách marketing đa chiều, chủ yếu tạo ra các đối thoại giữa các thương hiệu và người tiêu dùng. Thực tế, điều này cũng sẽ giúp tạo ra đối thoại giữa khách hàng với khách hàng. Truyền thông đang phá vỡ rào cản giữa các nhóm xã hội khác nhau và các nguyên tắc marketing.



9. Truyền thông cần có trách nhiệm hơn



Với tất cả những thay đổi và phát triển nói trên, World Cup cũng như các sự kiện khác đã lên kế hoạch trong năm 2010, truyền thông cần phải tiến hành thay đổi một cách thận trọng và xem xét kỹ lưỡng.



Tôi không chỉ nói đến đến nội dung và phong cách bài viết, mà còn nói đến quản lý sự thay đổi và chuyển đổi từ một giai đoạn của cuộc cách mạng sang một giai đoạn khác.




Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

So sánh Nexus One với Droid, iPhone



Bây giờ thì điện thoại Nexus One của Google đã chính thức được công bố (vào ngày 5/01/2010), mọi người sẽ tự hỏi liệu chiếc điện thoại của Google này so sánh với các điện thoại smartphone cùng đẳng cấp trên thị trường như iPhone và Motorola Droid thì thế nào? Liệu có đáng chuyển sang dùng Nexus One không?





BillShrink.com đã tiến hành so sánh theo biểu đồ giữa các smartphone (bao gồm cả Palm Pre) về tất cả các tính năng chính. Có một số khác biệt dễ nhận thấy là: iPhone vẫn thiếu tính năng đa tác vụ (multitasking), trong khi đó hai điện thoại có hệ điều hành Android có ít ứng dụng hơn — tuy nhiên, về cơ bản các điện thoại này tương đương nhau theo quy cách kỹ thuật công bố.



Khác biệt lớn nhất là tổng chi phí sở hữu, và Nexus One thắng thế iPhone và Droid vì các gói sử dụng của T-Mobile rẻ hơn so với các gói sử dụng của AT&T (cung cấp chi iPhone) và Verizon (cung cấp cho Droid). Tuy nhiên, theo dự đoán khả năng phủ sóng 3G của T-Mobile không thể bằng Verizon, thậm chí cũng kém hơn cả AT&T.



Xét về tổng tể, khó mà chọn được điện thoại nào vượt trội hẳn căn cứ theo quy cách kỹ thuật; tuy vậy, bạn có thể tham khảo biểu đồ so sánh dưới đây:


Nexus One vs iPhone, Droid & Palm Pre



Biểu đồ so sánh Nexus One, iPhone, Palm Pre và Droid. Nguồn: Billshrink.com

Dịch thuật Việt theo Mashable



10 dự đoán về kinh tế toàn cầu của năm 2010



Các chuyên gia tại Hãng dự báo và phân tích tài chính-kinh tế IHS Global Insight cho rằng năm 2010 nguy cơ xuất hiện cuộc khủng hoảng kép là rất cao. Nhà kinh tế trưởng Nariman Behravesh và các chuyên gia tại Hãng dự báo và phân tích tài chính-kinh tế IHS Global Insight dựa vào các mô hình kinh tế đặc thù được phát triển trong hơn 45 năm qua, đã đưa ra “10 dự báo kinh tế cho năm 2010” như sau:





Phục hồi kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu chậm lại


Trong năm 2010I, HS Global Insight dự đoán tăng trưởng kinh tế của Mỹ sẽ ở mức 2-2,5%. Trong khi chi tiêu cho nhà ở và trang thiết bị dự kiến đạt mức tăng khá, thì với chi tiêu tiêu dùng chỉ tăng 1,8%, GDP của Mỹ khó thể đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn.


Một trong những nhân tố lớn ảnh hưởng xấu đến chi tiêu của các hộ gia đình sẽ là tỷ lệ thất nghiệp, có thể tăng tới khoảng 10,5% trong quý I/2010.


Châu Âu và Nhật Bản sẽ phục hồi chậm hơn Mỹ


Châu Âu và Nhật Bản đã trải qua cuộc suy thoái sâu hơn Mỹ và có thể chứng kiến đà phục hồi yếu hơn. Các nền kinh tế khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (euro) và Anh dự kiến tăng trưởng tương ứng là 0,9% và 0,8% trong năm 2010.



Một số nền kinh tế Tây Âu như Iceland, Ireland và Tây Ban Nha, sẽ tiếp tục giảm trong năm tới, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, cũng như các cơn dư chấn sau sự sụp đổ thị trường nhà ở. Trong khi đó, kinh tế Nhật Bản sẽ vận hành tốt hơn, nhưng với mức tăng nhẹ 1,4%.


Hầu hết các thị trường đang nổi sẽ phục hồi nhanh


Tăng trưởng GDP tại tất cả các khu vực đang nổi sẽ phục hồi vào năm 2010 và (có thể trừ “khu vực châu Âu” đang nổi) sẽ khởi sắc nhanh hơn so với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.


Châu Á (ngoại trừ Nhật Bản) được dự báo sẽ đạt mức tăng GDP 7,1% trong năm 2010, trong khi Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Phi sẽ chứng kiến mức tăng 3-4%.


Khu vực chậm nhất sẽ là vùng “châu Âu đang nổi”, chỉ với mức tăng 1,7%.


Lãi suất tại Nhóm G8 vẫn rất thấp



Trong khi một số ngân hàng trung ương, nhất là ở Australia, Israel và Na Uy, đã bắt đầu tăng lãi suất, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) vẫn chưa thể có hành động tương tự cho tới quý III/2010.


Tuy vậy, một vài ngân hàng trung ương ở châu Á, đặc biệt là Ngân hàng Dự trữ ấn Độ và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, có thể đưa ra quyết sách này sớm hơn, cụ thể là vào quý I hoặc II/2010.



Năm 2010 kinh tế thế giới sẽ khả dĩ hơn 2009 nhiều


Chính sách kích thích tài chính sẽ bắt đầu được nới lỏng


Các gói kích thích kinh tế khổng lồ của một số nước, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, đã giúp làm dịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính cách đây một năm.


Mặc dù vậy, với cuộc khủng hoảng hiện đã đi qua, hầu hết các quốc gia không có kế hoạch đưa ra thêm các biện pháp kích thích, trong khi một vài nền kinh tế dự kiến thắt chặt tài chính.


Ngay tại Mỹ, nơi gói kích thích kinh tế thứ hai đang được bàn bạc, Chính phủ vẫn không chi thêm cho bất kỳ chương trình nào, ngoài nỗ lực nhằm làm dịu những hiệu ứng xấu của tình trạng thất nghiệp leo thang.


Giá hàng hóa sẽ giảm



Quy mô tăng gần đây của giá hàng hoá khó có thể được đánh giá đúng mức, do đà phục hồi chậm. Một phần sự gia tăng này được cho là do hoạt động của giới đầu tư.


IHS Global Insight và IHS CERA dự đoán giá dầu và các mặt hàng khác sẽ đi xuống trong những tháng tới.


Đặc biệt, giá dầu dự kiến sẽ giảm từ các mức hiện nay (khoảng 75-80 USD/thùng) xuống khoảng 65 USD/thùng vào mùa Xuân tới, trước khi tăng dần lên hơn 70 USD/thùng vào cuối năm 2010 nhờ kinh tế toàn cầu lấy lại đà phục hồi.


Lạm phát sẽ không phải là vấn đề


Tại hầu hết các khu vực trên thế giới, lạm phát sẽ không “đáng kể”. Tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng làm giảm mạnh tiền lương và tình trạng dự thừa công suất quá lớn trên khắp thế giới cũng sẽ hạn chế khả năng tăng giá hàng hoá của các doanh nghiệp.


Sức ép lạm phát duy nhất sẽ xuất hiện ở những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh (chủ yếu là ở châu Á) và những quốc gia ấn định tỷ giá đồng nội tệ thấp so với đồng USD (chủ yếu ở Trung Đông và châu Á.


Tình trạng mất cân đối toàn cầu sẽ xấu đi


Suy thoái sâu của kinh tế Mỹ là nhân tố chủ chốt khiến nước này bị thâm hụt tài khoản vãng lai trên 700 tỷ USD năm 2008 và gần 450 tỷ USD năm 2009.


Tuy vậy, IHS Global Insight dự báo khoản thâm hụt này sẽ phình thêm khoảng 90 tỷ USD trong năm tới, một phần do kinh tế Mỹ sẽ tăng nhanh hơn hầu hết các nền kinh tế phát triển khác.



Song, tăng trưởng dựa vào xuất khẩu tại một số nền kinh tế lớn khác như Đức, Trung Quốc và phần còn lại của châu á cũng là một nguyên nhân.


Đồng USD tiếp tục mất giá


Nhờ triển vọng kinh tế Mỹ sáng sủa hơn đôi chút so với kinh tế châu Âu và Nhật Bản, nhu cầu về đồng USD sẽ cải thiện. Điều này có nghĩa là giá trị đồng tiền xanh của Mỹ có thể tăng trong vài tháng tới.


Tuy nhiên, do tiến bộ trong nỗ lực giảm những mất cân đối toàn cầu chỉ là tạm thời, sức ép giảm giá của đồng USD sẽ tiếp tục trong năm 2010.


Đà giảm này chắc chắn sẽ là sâu nhất so với các đồng tiền của những thị trường đang nổi, do triển vọng tăng trưởng mạnh hơn tại các nền kinh tế này.


Nguy cơ xuất hiện cuộc khủng hoảng kép là rất cao


Hiện có khoảng 20% nguy cơ xuất hiện một cuộc khủng hoảng kép, do nhiều nhân tố, trong đó có việc thắt chặt các chính sách tài chính hoặc tiền tệ, sự giảm sút mạnh trong chi tiêu tiêu dùng do thất nghiệp leo thang, sự tăng mạnh của giá dầu trên các thị trường quốc tế, cũng như sự thất bại của một vài thể chế tài chính lớn.


Sự kết hợp giữa những nhân tố này có thể đẩy tăng trưởng toàn cầu vào khu vực tăng trưởng âm.



Lương và Tâm



Phàm ở đời, nhận hay cho đều gắn với chữ Tâm. Chữ Tâm tròn hay khuyết, mỏng hay dày đều xuất phát từ tâm thế, mục đích của người cho và nhận vậy. Lương (thu nhập, nhận) cũng không ngoài sự ràng buộc ấy. Soi chiếu việc này với việc một số sếp của các doanh nghiệp nhà nước nhận lương cao tới mức gây sốc cho dư luận, lại băn khoăn đi tìm vị trí chữ Tâm.





Nhận lương như thế mà để lỗ, lúc đó chữ Tâm có ngủ yên? Kinh doanh nguồn tiền khổng lồ của nhà nước, “buôn tài không bằng dài vốn”, nhưng “vốn dài” mà lợi nhuận thu về ngắn, có khi lại âm, thế nhưng lương tháng chẳng âm bao giờ.



Vừa mới đây, báo chí lại thông tin Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang nhận lương mỗi tháng 232 triệu đồng trong khi cả năm Cty này chỉ nộp ngân sách 4,7 tỷ đồng! Và lương công nhân chỉ bằng mươi cân cá kèo. Lúc đó chữ Tâm trong họ chắc đang ngủ yên?


Lương không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với Tâm. Câu chuyện các cô giáo mầm non ở xã Long Thành, huyện Yên Thành nhận mức lương mỗi tháng sáu trăm nghìn đồng, có khi lương được trả bằng lúa, bằng lạc, bằng cả ổ chó con. Nhưng các cô vẫn say nghề, yêu trẻ vô điều kiện.


Biết bao cán bộ công nhân viên chức đang nhận những đồng lương khốn khó mà vẫn hăng say lao động, đóng góp vào sự phát triển đất nước.


Lương chịu sự điều chỉnh của cơ chế, chính sách nhưng lương cũng chịu sự chi phối của chữ Tâm. Tâm thể hiện ở việc đưa ra một chế độ tiền lương công bằng, nhân sinh của những người hoạch định chính sách.


Tâm thể hiện ở cách ứng xử mang tính đạo lý: chỉ nhận những gì tương xứng với sự đóng góp của mình. Càng quyền cao chức trọng càng phải có trách nhiệm thể hiện chữ Tâm khi ứng xử với lương.



Tổng thống Mỹ B. Obama đã mắng các CEO của một số ngân hàng Mỹ là “thiếu lương tâm” khi để cho ngân hàng mà mình lãnh đạo lâm vào nguy cơ phá sản nhưng vẫn vô cảm nhận mức lương thưởng hàng triệu USD.


Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak lại cam kết dành toàn bộ lương của nhiệm kỳ tổng thống 5 năm để tặng người nghèo.


Hồi đang ở cương vị Phó Thủ tướng, ông Vũ Khoan tâm sự: “Các bạn nghĩ rằng lương của tôi được bao nhiêu? Mới đây, tôi có đi thăm Cty sữa Việt Nam, hỏi chuyện anh em công nhân mới hay là lương của mình còn thua lương anh em. Dẫu sao, tôi cũng thấy mừng vì chuyện này...


Tôi biết lương của các nguyên thủ nước ngoài rất cao. Thế nhưng quan điểm của Chính phủ là một viên chức nhà nước không thể hưởng lương quá cao so với những người đã hy sinh xương máu của mình vì sự độc lập và thống nhất của tổ quốc”. Một quan điểm về lương hợp lý và thấu đạo.


Trong cơ chế thị trường, lương Phó Thủ tướng thua lương công nhân cũng là bình thường, nhưng sẽ không bình thường nếu như lương quá cao hoặc quá thấp so với sự đóng góp. Nhất là đối với những công bộc của dân, những người “Lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ”.



Khi chiết tự chữ Tâm, Nguyễn Du viết “Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời”. Để đắp đầy một chữ Tâm, nhất là đối với những người lãnh đạo, khó lắm thay!



Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2010

Truyền đi tinh thần lạc quan



David Brooks, biên tập viên của Thời báo New York viết: “Chúng ta thực sự có nhận thức trong việc lựa chọn câu chuyện chúng ta sẽ sử dụng để tạo sức ảnh hưởng. Trách nhiệm cá nhân thể hiện trong việc lựa chọn và liên tục xem xét lại câu chuyện chúng ta nói về bản thân”.





Giải thích của Brooks về việc lựa chọn câu chuyện để nói có thể áp dụng với những nhà lãnh đạo tìm cách để vượt qua cuộc suy thoái. Những tin xấu không ngừng tăng có thể làm mọi người bi quan, nhưng người lãnh đạo còn có nhân viên, những người dưới quyền và phải truyền cảm hứng lạc quan cho họ.



Nếu không kể đến thực tiễn, người lãnh đạo phải truyền cảm hứng không chỉ đơn giản là hy vọng mà còn cả sự kiên nhẫn, bền bỉ. Kể những câu chuyện có thể có ích gì đó trong nỗ lực này. Dưới đây là một số gợi ý cho việc chọn câu chuyện để giảm bớt những nghịch cảnh và khó khăn.



Bắt đầu từ đầu. Tập trung vào những điều đang xảy ra. Hãy thẳng thắn về những thách thức mà công ty đang phải đối mặt không kể đến những yếu tố ngoại cảnh như nền kinh tế, đối thủ cạnh tranh cũng như ảnh hưởng toàn cầu. Hãy nói về những gì công ty đã làm đúng cũng như những gì công ty có thể làm tốt hơn.


Phát triển nhân viên. Một công ty là một tập thể những cá nhân. Hãy thảo luận xem bạn cần những kỹ năng cũng như lòng quyết tâm của nhân viên như thế nào để tồn tại được. Hãy nói rõ rằng bạn muốn có cách thức mới để thực hiện mọi việc. Hãy nêu rõ những điều tốt mà mọi người làm được trong những thời điểm khó khăn.



Giải quyết những mâu thuẫn. Thời thế tạo anh hùng. Hãy chắc chắn nói về những nguồn lực đang ảnh hưởng khả năng kinh doanh của bạn, tích cực hay tiêu cực, và ảnh hưởng của chúng đối với nhân viên của bạn, càng cụ thể càng tốt. Hãy nói đến những tình huống ảnh hưởng đến hành vi, thói quen mua sắm của khách hàng cũng như khả năng phục vụ nhu cầu của khách hàng của bạn. Hãy cho nhân viên thấy rõ toàn cảnh mọi việc: nếu công việc có tiến triển tốt hãy nói cho họ biết.



Điều gì đang xảy ra. Khó khăn có thể đem lại những thay đổi tích cực. Đó có thể là một cơ hội để tối ưu hóa hoạt động cũng như đem lại các cơ hội phát triển mới cho nhân viên. Tương tự vậy, thời điểm khó khăn có thể có tác động xấu đến một số đối thủ cạnh tranh, và mở ra cánh cửa cho công ty bạn hướng tới một việc kinh doanh mới.



Không bao giờ giả định về sự kết thúc. Đúng vậy, chúng ta đều muốn có một kết thúc tốt đẹp cho câu chuyện của mình. Bạn có thể nói về những kết quả mong muốn trong một ma trận kinh doanh (tăng doanh thu và cải thiện lợi nhuận) cũng như ma trận nhân lực (tiếp tục tuyển dụng và đãi ngộ tốt hơn). Nhưng không bao cam kết về kết quả trừ khi bạn chắc chắn bạn có thể đạt được. Tốt hơn hết là nói ít và làm nhiều.



Tuy nhiên, kể ra những câu chuyện tích cực không phải là lý do biện hộ cho việc không đánh giá đúng khó khăn, thách thức. Bất cứ nhà quản lý nào tô vẽ ra một bức tranh màu hồng quá tươi sáng mà phớt lờ thực tiễn thị trường và ảnh hưởng của chúng tới doanh nghiệp, nhân viên và khách hàng không chỉ không tạo được sức ảnh hưởng và sự liên kết mà còn cho thấy rằng người đó không mấy đáng tin.



Mấu chốt của bất cứ câu chuyện nào trong những thời điểm này là phải chứa đựng những khả năng hiển nhiên là thời điểm khó khăn sẽ còn kéo dài trong tương lai là điều có thể nhìn thấy. Điều đó không phải là sự bi quan mà là thực tiễn.



Nhưng những câu chuyện mang lại sự lạc quan trong bối cảnh khó khăn không phải là những câu chuyện đơn giản và ngờ nghệch. Nếu bạn có thể kể một câu chuyện chứa đựng bối cảnh của cách mà mọi việc là và có thể là thì bạn đang đưa ra một lộ trình để có thể ảnh hưởng đến thế giới bằng việc truyền dẫn niềm hy vọng.


Nguồn: 
Tuần Việt Nam

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010

Nhìn vào tương lai



Theo ước tính của IMF, năm 2010, các nền kinh tế nổi bật nhất sẽ là Trung quốc với tốc độ tăng trưởng dự kiến trong năm 2010 đạt tới 9% sau đó là Ấn Độ với mức tăng trưởng dự kiến 6,4%.





2010: Mỹ chính thức ra khỏi khủng hoảng


IMP khẳng định, suy thoái cũng sẽ chấm dứt trong năm 2010 ở hầu hết các nước công nghiệp, kể cả ở Mỹ, Nhật và các nền kinh tế lớn ở Tây Âu (trừ Tây Ban Nha). Nhìn chung, kinh tế Mỹ, nơi hệ thống tài chính được tái tổ chức mạnh mẽ và thị trường lao động có tính linh hoạt cao, sẽ vượt hơn châu Âu với thị trường lao động nặng nề và tỷ lệ thất nghiệp cao. Trên thực tế, tăng trưởng GDP của Mỹ đã tăng 2,8% trong quý ba năm 2009 sau 4 quý giảm liên tiếp trước đó. Theo dự đoán của JP Morgan, tăng trưởng GDP của Mỹ trong quý 4 sẽ đạt 4,5% so với cùng tột năm trước. Bình luận về những kết quả trên, hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý có sự đóng góp tích cực của gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ đoạt được quốc hội Mỹ thông qua hồi đầu năm. Họ cho rằng chương trình kích thích kinh tế nói trên đã giúp nền kinh tế đang rơi vào tình trạng rơi tự do một năm trước đây, nay quay trở lại đúng đường và giúp giảm số lượng lao động bị thải hồi.


Tuy nhiên, tình thế kinh tế Mỹ vẫn rất căng thẳng và còn quá sớm để nói tới sự phục hồi thực sự của nền kinh tế luôn được đánh giá là năng động nhất toàn cầu này trong tháng 11/2009, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ là 10%, tuy giảm hơn so với tháng trước đó (l0,2%) nhưng vẫn là tỷ lệ thất nghiệp tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ ở Mỹ. Tính từ khi suy thoái bắt đầu vào tháng 12 năm 2007 tới nay, nền kinh tế Mỹ đã mất 7,2 triệu việc làm. Hơn nữa, cùng với việc gói kích thích kinh tế 787 tỷ USD đã phát huy hết hiệu quả thì trong năm 2010, sự hỗ trợ của chính phủ cho khu vực tư nhân cũng trở nên hạn chế hơn mặc dù mới đây Tổng thống Obama muốn thực hiện gói kích cầu thứ hai có trị giá khoảng 150 tỷ đôla. Thâm hụt ngân sách dự kiến lên tới 10% GDP khiến cho việc tiếp tục chi tiêu để kích thích kinh tế ít có tính khả thi.


Cân nhắc các rủi ro này, IMF dự đoán kinh tế Mỹ sẽ đạt tăng trưởng 1,5% trong năm 2010 trong khi thất nghiệp vẫn sẽ ở mức trên 10% trong nửa đầu năm 2010. IMF cũng tỏ ra nghi ngờ về khả năng tăng trưởng cao (ở mức trên 2%) trong trung hạn của kinh tế Mỹ. Lý do là thất nghiệp luôn có một độ trễ so với tăng trưởng - tức là nền kinh tế thông thường hồi phục nhanh hơn tốc độ hồi phục việc làm - do vậy thất nghiệp vẫn sẽ khá cao ở Mỹ trong năm 2010 và 2011. Về phía cầu, do ảnh hưởng của khủng hoảng khiến người tiêu dùng hạn chế mua sắm và tăng tiết kiệm và điều này ảnh hưởng tiêu cực tới việc phục hồi kinh tế. Hơn nữa, sự hồi phục kinh tế Mỹ dựa một phần lớn vào xuất khẩu mà các đối tác thương mại của Mỹ cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Châu Âu có thể còn hồi phục chậm hơn Mỹ trong khi châu Á với tốc độ tăng trưởng dự kiến cao trong năm tới thì lại là các đối tác có cán cân thương mại thặng dư so với Mỹ. Điển hình là Trung Quốc, tính trong 10 tháng đầu năm 2009, Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ nhiều hơn lần so với lượng họ nhập khẩu từ Mỹ. Thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung quốc trong 10 tháng đầu năm 2009 đạt 18 tỷ đôla. Trong khi đấy, những nỗ lực của Mỹ nhằm khiến Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ để cân bằng cán cân thương mại hai nước hơn đều thất bại.


Đại bàng Mỹ đang vươn mình sau cú sa cơ gãy cánh hồi năm ngoái, nhưng đường bay của nó vẫn còn chập chừng, chưa thực sự định hình.


2010: Trung Quốc – Con rồng mạnh mẽ



Trung Quốc là nền kinh tế hiếm hoi không rơi vào tình trạng giảm sút sức tăng trưởng cao trong cơn bão khủng hoảng toàn cầu. Trong nửa đầu năm 200 khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới rơi vào tình trạng hiểm nghèo nhất thì kinh tế Trung Quốc vẫn đạt tăng trưởng 7,1%. Tính cho cả năm 2009, IMF dự đoán tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có thể đạt 8,5%. Trong năm 2010, hầu hết các tổ chức quốc tế đều đánh giá rất cao khả năng tăng trưởng của Trung Quốc. ADB dự đoán tăng trưởng Trung quốc là 8,9% còn IMF đưa ra con số 9,0%. Tổ chức OECD thậm chí còn dự đoán tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2010 sẽ ở mức hai con số (10,2%) so với 2,5% của Mỹ và 0,9%o ở khu vực đồng Euro.


Thành công của Trung Quốc trong việc kiềm chế đà suy giảm kinh tế năm 2009 là nhờ có gói kích thích kinh tế khổng lồ và các chính sách tiền tệ nới lỏng linh hoạt. Chỉ trong nửa đầu năm năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc đã cho vay 1.270 tỷ USD tương đương với 50% GDP nước này và cao hơn giá trị các khoản vay cho cả năm 2008. Chính sách thúc đẩy tín dụng này đã làm tăng mạnh các lĩnh vực đầu tư công và tư, bán lẻ và phát triển hạ tầng. Trong 3 quý đầu năm 2009, giá trị bán lẻ đã tăng 15,1%, và đầu tư tài sản cố định tăng so với cùng kỳ năm trước. Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành thị trường xe hơi lớn nhất thế giới.


Ngoài ra, cũng phải kể đến luồng tiền khổng lồ đổ vào châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng khi khủng hoảng toàn cầu xảy ra do khu vực này vẫn được nhìn nhận là có nhiều tiềm năng tăng trưởng hơn cả. Nhờ đó, áp lực đối với tài trợ xuất khẩu giảm sút và lòng tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng được củng cố. Trong tháng 11, riêng vốn FDI đổ vào Trung Quốc đã đạt 7,02 USD, cao hơn 2 phần trăm so vai cùng kỳ năm trước. Nhưng mặt khác, những rủi ro của Trung Quốc cũng không thiếu. Đáng lo ngại nhất là khả năng xảy ra bong bóng tài chính và bong bóng bất động sản như là hậu quả của chính sách kích thích chi tiêu, mở rộng tiền tệ và luồng tiền khổng lồ từ bên ngoài đổ vào Trung Quốc. Một kịch bản tương tự như đã từng xảy ra ở Mỹ cách đây 2 năm hoàn toàn có thể xảy ra ở Trung Quốc trong năm 2010.


Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ sẽ là một nền kinh tế năng động có tốc độ tăng trưởng tốt trong năm 2010. Nhật Bản cũng đã ra khỏi suy thoái và dự kiến sẽ đạt tăng trưởng khoảng 1,7% vào năm 2010.


2010: Gấu châu Âu chậm chạp


Các số liệu gần đây cho thấy châu Âu đang hồi phục nhưng mức độ hồi phục khá chậm chạp. Theo IMF dự đoán thì năm 2010, tăng trưởng của khối khu vực đồng Euro chỉ đạt 0,3%. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này. Thứ nhất là không có sự tái cấu trúc mạnh mẽ hệ thống tài chính như đã và đang diễn ra ở Mỹ hay châu Á. Các điều kiện thắt chặt tín dụng để bảo vệ hệ thống tài chính được thực thi khiến cho đầu tư tư nhân bị hạn chế trong khi thất nghiệp tăng gây anh hường tới tiêu dùng. Một số nước châu Âu như Ailen, Tây Ban Nha và Anh còn rơi vào tình trạng vỡ bong bóng bất động sản như từng xảy ra ở Mỹ.


Trong các nước công nghiệp ở Tây Âu thì Đức chịu ảnh hưởng nặng do cơ cấu kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu. Trong khi đó, suy thoái của Pháp ít trầm trọng hơn do ít phụ thuộc xuất khẩu hơn. Theo dự đoán của IMF thì trong số là nước thuộc khu vực đồng Euro thì 4 nước sẽ tiếp tục suy thoái vào năm 2010 là Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ai-len và Luxembourg. Tệ nhất trong số này là Ai-len với mức suy giảm kinh tế có thể lên tới -2,5% vào năm 2010. Trong số 12 nước thuộc khu vực này dự kiến có tăng trưởng kinh tế dương vào năm 2010 thì cao nhất là Cộng hòa Slovak (3,7%), tiếp đó là Pháp và Phần Lan (cùng 0,9%). Nhìn chung, triển vọng trì trệ của châu Âu trong năm 2010 là rất cao. Con gấu châu Âu vẫn dẫm chân tại chỗ, bất lực trông chờ vào sự phục hồi của Mỹ và nhất là ở các nền kinh tế mới nổi tại châu Á.



Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010

Wikipedia đạt mục tiêu gây quỹ: 7,5 triệu USD



Đã thành thông lệ mỗi mùa Giáng Sinh, cha đẻ của Wikipedia (một bách khoa toàn thư trực tuyến) là Jimmy Wales đăng lời kêu gọi ủng hộ của người dùng cho Quỹ Wikimedia Foundation (Quỹ Wikimedia là một tổ chức phi lợi nhuận đã được đăng ký luôn cống hiến cho sự phát triển và quảng bá nội dung tự do) đầu tháng 12/2009.





Vào ngày hôm qua 31/12/2009, Wales đã công bố Wikimedia đã đạt được con số gây quỹ như dự tính với số tiền là 7,5 triệu USD. Năm ngoái, khi Wales đăng lời kêu gọi tương tự, Wikimedia Foundation cũng đã nhận được 6,2 triệu USD từ 125.000 người.


Vẫn không có quảng cáo!


Wikipedia và các tài sản khác của Wikimedia như Wikiquote (là nơi sưu tầm các câu thơ, câu ca dao, tục ngữ ở trên mạng)hoặc Wikibooks (là thư viện đựng sách giáo khoa, sổ tay và nhiều loại bản văn khác)có thể dễ dàng tìm được các nhà quảng cáo hỗ trợ tài chính. Để giữ được khả năng độc lập và công minh, Wikimedia Foundation muốn nhận được sự đóng góp giúp đỡ của các nhân người dùng hơn.



Mặc dù vậy, điều đáng chú ý là Wikipedia có các thỏa thuận với những công ty khác như Orange của Viễn thông Pháp. Các doanh nghiệp này được phép sử dụng nội dung của Wikipedia và chia sẻ doanh thu quảng cáo với Wikimedia Foundation.



Wikimedia Foundation hiện có chưa đến 35 nhân viên và cần xấp xỉ 10 triệu USD để hoạt động. Mỗi tháng có khoảng 340 triệu lượt truy cập Wikipedia. Theo Wales, con số này "gần bằng 1/3 số người truy cập Internet trên toàn thế giới."


Dịch thuật Việt theo ReadWriteWeb



5 xu hướng hàng đầu trong Quản trị nguồn nhân lực




Hơn một thập kỷ qua, bộ mặt của ngành Quản trị Nguồn nhân lực (Human Resources – HR) đã thay đổi đáng kể. Từ một bộ phận dường như với mức ưu tiên thấp, giờ đây HR đã trở thành một phần không thể thiếu đối với mọi tổ chức bởi chính chức năng then chốt của nó.





Ngày nay, HR hiện thân cho tất cả những hiểu biết về cách thức duy trì môi trường làm việc hiệu quả và tích cực nào là tốt cho doanh nghiệp. Việc thực hiện kịch bản mang nhiều tính lý tưởng này có vẻ khó khăn bởi nhiều tổ chức không hiểu cần phải làm gì. Vậy thì làm sao các doanh nghiệp ngày nay có thể quản lý được sự thay đổi này? Câu trả lời hết sức đơn giản: đó là hãy ứng dụng những thực tiễn về HR tốt nhất và thúc đẩy công nghệ HR.


Dù có xảy ra tình trạng suy thoái kinh tế hay không thì sự đổi mới trong công nghệ HR vẫn tiếp tục phát triển và thay thế cách thức mà mọi người thường làm. Công nghệ này ảnh hưởng tới tất cả chúng ta – trong cả cuộc sống cá nhân cũng như ở nơi làm việc. Do đó, điều quan trọng là chúng ta phải tiếp tục nắm bắt công nghệ theo hướng thu được những công cụ sẽ giúp tạo ra sự truyền đạt và hợp tác tốt hơn trong khả năng làm việc của mỗi người. Công nghệ, chẳng hạn như kết nối mạng xã hội, điện thoại di động... giúp con người kết nối với nhau trong môi trường làm việc của mình và tiếp sức cho tiềm năng về sự sáng tạo cùng năng suất làm việc được nâng cao.


Nhưng những xu hướng hiện nay có vấn đề gì không khi mục đích quan trọng nhất vẫn là: các tổ chức cần ghi nhớ những yêu cầu về nguồn lực lao động cả ở hiện tại và tương lai trước khi chuyển sang một giải pháp mới.


Giờ đây, chúng ta đang tiếp cận một thập kỷ mới với năm xu hướng hàng đầu mà ai cũng tin rằng chúng đang mang đến ảnh hưởng lớn nhất trong đấu trường HR.



• Quản lý nhân tài.
• Kết nối mạng xã hội.
• Thuê gia công bên ngoài.
• Sử dụng phần mềm như dịch vụ – (software as a service – SaaS).
• Mua bán và sáp nhập – (mergers and acquisitions – M&As).



1. Quản lý nhân tài


Quản lý nhân tài bổ sung vào tổ hợp HR nòng cốt qua việc cung cấp sự kết hợp giữa quản lý tuyển dụng, thực hiện và đãi ngộ, hoạch định thành công cùng nhiều điều khác nữa. Và chính như vậy mà ngành công nghiệp phần mềm doanh nghiệp được xem như sự tăng vọt mạnh mẽ trong việc cung cấp giải pháp cũng như nhưng các loại hình nhà cung cấp đang bán những giải pháp đó.


Chính cuộc Triển lãm và Hội thảo về Công nghệ HR thường niên lần thứ 12 năm nay diễn ra tại Chicago, Illinois (Mỹ) đã trở thành bằng chứng rõ ràng rằng quản lý nhân tài đang tồn tại, phát triển và ngày càng tạo được ảnh hưởng tới cách thức thực hiện hoạt động kinh doanh của các tổ chức. Ngày nay, cả quản lý nhân tài và phát triển nhân lực đều trở nên quan trọng cốt yếu trong việc xác định rõ tiềm năng thực hiện của một tổ chức. Nhưng khả năng để quản lý hiệu quả thường thiết lập các tổ chức rời rạc và đó chính là sự khác nhau chủ yếu giữa một tổ chức đạt được những kết quả tàm tạm với một tổ chức có được những thành công vượt qua mong đợi.


Vì vậy, quản lý nhân tài được xem là một chiến lược kết hợp các chức năng HR nòng cốt như tổ chức quản trị hành chính, lương bổng cùng các phúc lợi theo doanh số, sự phát triển và hiệu quả. Những giải pháp này mang đến một bộ công cụ hoàn thiện giúp các tổ chức nắm bắt được phương pháp tiếp cận chiến lược hơn theo hướng họ chọn lựa, quản lý và giữ chân nhân viên của mình.


Những nhà cung cấp đưa ra các giải pháp quản lý nhân tài ngày nay là một nhóm hết sức đa dạng. Điều này có thể gây khó khăn cho các nhà ra quyết định HR khi muốn xác định những giải pháp nào có thể phù hợp thực sự với tất cả các yêu cầu của mình. Các nhà ra quyết định cần quyết định xem giải pháp nào tốt hơn cho tổ chức của họ bằng cách xác định liệu có nên mua một giải pháp HR ngoài khuôn khổ hay không; một giải pháp về hệ thống quản lý học hỏi (learning management system – LMS) thực sự phù hợp với hệ thống HR nòng cốt hiện nay của họ hay một hệ thống hoạch địch nguồn lực doanh nghiệp (enterprise resource planning – ERP) mới có thể thay thế cho nhiều giải pháp riêng rẽ của họ. Sự kết hợp giữa các hệ thống kiểu như vậy là vô cùng.



Năm loại giải pháp chính về quản lý nhân tài gồm:



  • Các nhà cung cấp HR truyền thống bổ sung tính năng quản lý nhân tài vào các ứng dụng HR nòng cốt của mình.


  • Các nhà cung cấp ERP đã phát triển thêm quản lý nhân tài dựa trên các sản phẩm cốt lõi của họ.


  • Các nhà cung cấp LMS kết hợp việc học hỏi với quản lý nhân tài.
    Các nhà cung cấp thị trường ngách tập trung vào một lĩnh vực cụ thể trong cả chuỗi quản lý nhân tài, chẳng hạn như theo dõi hồ sơ, tuyển dụng, quản lý nguồn lực, quản lý thực thi.


  • Các nhà cung cấp phần mềm quản lý nhân tài chỉ tập trung vào bốn hướng chính của quản lý nhân tài là tuyển dụng, quản lý thực thi, quản lý học hỏi và quản lý đãi ngộ.

2. Kết nối mạng xã hội



Hơn năm năm qua, việc kết nối mạng xã hội – dưới dạng các mạng nội bộ, wiky (website mang tính riêng tư của một cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng), trung tâm truyền tin, blog và cùng nhiều hình thức khác – đã thay đổi cách thức kiểm soát đào tạo công ty và quản lý nhân tài của nhiều công ty. Các trang kết nối mạng xã hội ngày nay (LinkedIn, Facebook, MySpace và Twitter) cũng điểm xuyến thêm cho khung cảnh HR đang dần đổi thay này. Điều này diễn ra thường xuyên tới mức mà nhiều nhà cung cấp HR và quản lý nhân tài giờ đây bắt đầu xem việc kết nối mạng xã hội doanh nghiệp như một phần trong chức năng hoạt động của nhân viên mình. Ngược lại, nhiều nhân viên muốn tham gia một môi trường làm việc được hỗ trợ bởi những nguồn tài nguyên cộng tác sẵn có này.


Nhưng kết nối mạng xã hội không phải là khái niệm mới theo bất cứ khía cạnh mường tượng nào. Việc cộng tác và chia sẻ kiến thức đã diễn ra suốt nhiều năm qua trong thế giới quản lý học hỏi. Khá lâu trước khi LinkedIn và Twitter trở nên đình đám trong lĩnh vực này, các nhà cung cấp LMS đã giúp con người và kiến thức đến gần với nhau hơn thông qua việc sử dụng các diễn đàn thảo luận, chát sống...


Các mạng cộng tác ngày nay giúp mang lại cho bộ phận HR sự phản hồi liên tục và tức thì từ nhân viên (dù họ có thuộc ban quản lý hay không) trong các lĩnh vực đã trở nên quan trọng không chỉ với riêng người lao động mà còn với cả các tổ chức. Tuy nhiên, trong khi những trang này trở nên hữu ích đối với việc khai thác hồ sơ xin việc, tìm kiếm các khách hàng tiềm năng và cổ vũ tinh thần tập thể trong công ty thì chúng cũng có thể làm giảm năng suất và tăng rủi ro bảo mật. Chính vì vậy mà giờ đây đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu gia tăng về những công ty muốn tạo hoặc “tăng cường” các chính sách HR nội bộ của mình.


Đây là danh sách các kênh/ nhà cung cấp kết nối mạng xã hội – mà nhiều cái trong số đó được miễn phí – đang sử dụng chính việc kết nối mạng xã hội để thúc đẩy sự cộng tác và tìm hiểu kiến thức của người sử dụng.
Thông dụng nhất gồm:



  • Twitter

  • Facebook

  • MySpace

  • LinkedIn

3. Thuê gia công bên ngoài



Bất cứ một công ty gia công phần mềm về quản trị nguồn nhân lực (human resources outsourcing – HRO) bên ngoài nào cũng có thể đáp ứng được mọi yêu cầu HR từ tổ chức của bạn. Trong khi một số hãng HRO là những “đại gia” có thể đáp ứng được những dịch vụ đa dạng khác nhau thì số còn lại chỉ được xem như những chuyên gia HR tập trung vào các lĩnh vực chuyên môn hẹp trong cả chuỗi HR chẳng hạn như các quy trình nghiệp vụ, tuyển dụng hoặc lương bổng. Tùy thuộc theo loại hình hoạt động kinh doanh của bạn, quy mô doanh nghiệp và bạn muốn kiểm soát bao nhiêu để duy trì hết các chức năng HR mà sẽ có hai tùy chọn thuê gia công bên ngoài thường có sẵn sau:


Thuê gia công tất cả các công việc về HR.


Mời thầu những lĩnh vực đòi hỏi có sự cải tiến mà đội ngũ nội bộ không thể quản lý được.
Để duy trì được theo những yêu cầu quản trị mới nhất, xu hướng và thực tiễn tốt nhất, các chuyên viên HR ngày nay phải luôn làm việc hết công suất. Chính vì vậy mà những chức năng HR thuê gia công bên ngoài truyền thống (hoặc một số phi truyền thống) đều là cách giúp những chuyên viên này có được thời gian rảnh cho những nỗ lực mang tính chiến lược hơn. Những giao dịch HR thuê gia công bên ngoài là một hướng đi được chứng minh rằng việc kiểm soát hiệu quả hơn và giảm bớt chi phí trong khi vẫn đạt được mức dịch vụ tốt hơn.


Một số dịch vụ cơ bản do các hãng HRO đưa ra bao gồm:



  • Giám sát các yêu cầu của đội ngũ nhân viên và cơ cấu tổ chức.
  • Cung cấp theo dõi chi phí, lương bổng, thời gian và HR đồng nhất.
  • Đem lại các dịch vụ tuyển dụng, đào tạo và phát triển.
  • Theo dõi các mục tiêu phòng ban, mục đích và chiến lược.

Các tổ chức thuê gia công bên ngoài các dịch vụ HR nhằm:




  • Cho phép bộ phận HR tập trung vào các nỗ lực mang tính chiến lược.
  • Giành được kiến thức chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
  • Tiếp cận các công nghệ đổi mới nhằm đảm bảo công nghệ được nâng cấp liên tục.
  • Giảm chi phí thông qua cải tiến quy trình và tự động hóa.
  • Giảm tối thiểu hoặc chuyển rủi ro pháp lý sang cho bên nhận gia công về những phát sinh xuất hiện định kỳ.

Đây là một vài liên kết mà các công ty tìm kiếm các chuyên gia HRO có thể thấy thích:



  • International Association of Outsourcing Professionals (IAOP) Global Outsourcing 100 List.
  • HROWorld Summit 2009.

4. Sử dụng phần mềm như dịch vụ – (software as a service – SaaS)


Khi SaaS – thường được coi như phần mềm theo yêu cầu – xuất hiện trong suy nghĩ của hầu hết các nhà đưa ra quyết định về công nghệ thông tin thì điều đầu tiên họ nghĩ tới đó là “Bảo mật cái gì?”. Điều này đặc biệt đúng đối với những người có trách nhiệm mua một hệ thống HR cho các tổ chức của mình – những tổ chức luôn cất các báo cáo thành tích của nhân viên vào tủ và khóa kỹ lại. Có thể năm năm trước, việc bảo mật là một vấn đề nhưng ngày nay, mô hình SaaS đang dành được vị thế nên ngày càng nhiều doanh nghiệp – cả lớn và nhỏ – đều đi theo xu hướng này. Một số lý do chính đối với xu hướng này liên quan trực tiếp tới những lợi ích mà SaaS mang lại.



Những lợi ích đó là:



  • Tiếp cận liên tục.
  • Triển khai nhanh chóng.
  • Các mức bảo mật cao.
  • Tiết kiệm chi phí.
  • Hiệu quả về mặt thời gian.

Hơn cả việc tiêu tốn hàng trăm nghìn đô-la vào các phiên bản phần mềm bản quyền và nâng cấp phần cứng, các công ty có thể chọn sử dụng giải pháp HR theo nhu cầu với những cái được tính hóa đơn hàng thàng và chỉ cho những mô-đun mà công ty sử dụng. Ngoài ra, không cần phải có chu trình nâng cấp phức tạp bởi các ứng dụng theo yêu cầu luôn tự động cập nhật và được chuyển định kỳ tới khách hàng. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là SaaS có thể thực hiện được tính năng HR giống như một chức năng theo giả thuyết.


5. Mua bán và sáp nhập: Công nghệ tới hai lần


Cuộc khủng hoảng hiện nay đã cho thấy sự khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp cũng như các nhà cung cấp phần mềm. Năm 2009, các vụ mua bán và sáp nhập (mergers and acquisitions – M&As) đã trở thành hiện tượng chung. Trong năm ngoái, chúng ta đã chứng kiến các công ty nhỏ hơn bị những gã khổng lồ hất tung trong khi những công ty còn lại vẫn đang cố đàm phán để cải thiện cho các bên tham gia được tốt nhất – sáp nhập hai thực thể lại cùng nhau để trở thành một tổ chức lớn hơn và tốt hơn. Tuy nhiên, đó không phải là giải pháp thường xuyên.


Theo trang HR.com thì “thực tế cho thấy rằng tới hơn 2/3 các thương vụ mua bán và sáp nhập bị thất bại khi cố hoàn tất thu về lợi ích đã đề ra trước đó”. Chính sự không chắc chắn đã đem đến những vấn đề HR phát sinh do quản lý tồi trong các vụ M&A – điều luôn trở thành nguyên nhân chính dẫn tới những thất bại nêu trên.



Các vụ M&A cũng cho thấy được sự biến động khá lớn đối với nhân viên của các hãng có liên quan và sự phản ứng lại có thể khiến cho họ bị trở nên căng thẳng, tức giận, dẫn tới đình trệ... Thường thì tác động của những vụ M&A là doanh thu cao còn tinh thần và động lực thúc đẩy làm việc bị giảm xuống – chưa nói tới việc giảm sút năng suất. Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ M&A đều thất bại bởi vẫn có một số trường hợp chứng minh rằng khá thành công do biết kết hợp các yếu tố quản lý, tâm lý, xu hướng, công nghệ, giải pháp và chiến lược nhịp nhàng cùng nhau.


Vì vậy, các công ty nên dành thêm thời gian tìm hiểu những công cụ nào hữu ích cho bộ phận HR của mình giữa vô số các công cụ và giải pháp mới cóng sẵn có trên thị trường. Bởi rõ ràng không có gì mới trong các xu hướng này nhưng chính chúng lại đang góp phần tạo nên sự thay đổi diện mạo mới cho đấu trường HR.


Tuy nhiên, trên thực tế, cho dù nền kinh tế quốc gia như thế nào hoặc các xu hướng công nghệ HR hiện nay là gì thì điều quan trọng vẫn là các tổ chức phải luôn ghi nhớ các yêu cầu nguồn lực lao động hiện tại và tương lai của mình cũng như phải xác định rõ các chiến lược HR ngắn và dài hạn của tổ chức trước khi chuyển sang một giải pháp mới.