Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010

Chiến lược lâu dài hay cơn sốt nhất thời?



Mạng xã hội là dịch vụ tương tác hai chiều, kết nối nhiều thành viên có cùng sở thích, mục đích lại với nhau bất kể không gian và thời gian.





Qua đó có thể thấy ba đặc trưng cơ bản của mạng xã hội, đó là: 1) Sự tương tác giữa hai hoặc nhiều cá nhân với nhau, 2) Nội dung của các trang mạng xã hội được xây dựng bởi các thành viên tham gia và 3) Một website được xây dựng nhằm thu hút người sử dụng internet tham gia tương tác dựa trên một sở thích nào đó thì cũng được coi là mạng xã hội. Do vậy, các forum, website chia sẻ video, hình ảnh, blog đều được coi là các mạng xã hội.


Mạng xã hội (MXH) ở Việt Nam tuy dễ thay đổi nhưng cũng phát triển rất nhanh. Có thể thấy mức độ tham gia MXH khá cao và đang tăng lên rất nhanh thông qua số lượng những diễn đàn chuyên sâu về công nghệ, các sản phẩm ô tô, mỹ phẩm... cùng với số lượng các blog cá nhân hoặc website chia sẻ video, hình ảnh, sở thích. Rõ ràng, đây là một mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp (DN) trong việc tìm hiểu tâm tư, ý kiến khách hàng về sản phẩm cũng như quảng bá và giới thiệu tên tuổi của mình đến với họ một cách thân mật nhất.


Nếu nói theo ông Steve Patrizi, Phó giám đốc Phòng Giải pháp tiếp thị của MXH LinkedIn thì “khi thưởng thức một bữa ăn tại nhà hàng, có thể bạn sẽ mong muốn gặp đầu bếp để hỏi về kinh nghiệm nấu nướng, gặp chủ nhà hàng để khen ngợi hay góp ý, hoặc gặp người phục vụ để cám ơn sự nhiệt tình của họ. Thế nhưng, để gặp được hết những người này trong cùng một thời gian là một việc không tưởng. Và sự ra đời của MXH đã biến điều không tưởng ấy thành sự thật”.


Trong thời gian qua, có thể thấy các DN Việt Nam đã nhận ra tiềm năng của trào lưu này và khai thác tiềm năng đó bằng cách tham gia tạo diễn đàn trên mạng và khuyến khích khách hàng tham gia. Tuy nhiên, ông Ashley Ringrose, người thành lập Công ty Quảng cáo Soap Creative ở Mỹ, lại e ngại việc các công ty xây dựng diễn đàn, fanpage trên Facebook hoặc một tài khoản Twitter là chạy theo công nghệ, hình thức là chính, chứ chưa thật sự hiểu rõ quá trình tiếp cận và tận dụng MXH để tương tác với người dùng.


Có khá nhiều MXH và công cụ thiết lập một chương trình truyền thông hoàn chỉnh. Vấn đề không phải là công cụ nào hoặc chỉ cần đang quảng cáo trên Facebook hay tạo fanpage, mà đòi hỏi phải có một chiến lược lâu dài. Trước tiên, DN phải lắng nghe xem người ta đang nói gì về mình trên các diễn đàn hoặc MXH, sau đó tham gia vào các cuộc thảo luận ấy. Có thể chia chiến lược thành ba giai đoạn: Thứ nhất là xem cư dân mạng nói gì về mình và họ đang ở đâu. Thứ hai là tìm xem ai là người có thể gây ảnh hưởng với cộâng đồng mạng. Và cuối cùng là lập kế hoạch truyền thông trên mạng.


Đã qua rồi giai đoạn khán giả trông chờ những thước phim quảng cáo trên tivi, hoặc những bài báo giới thiệu để có thể biết thêm về DN. Với sự xuất hiện mạnh mẽ của internet nói chung và MXH nói riêng, khách hàng đang dần chuyển sang một hình thức tương tác mới - sử dụng môi trường ảo để giao lưu, để trao đổi và bàn luận về sở thích, về sản phẩm và thương hiệu.


Quan hệ cộng đồng trên mạng được cho là một phương pháp truyền thông PR mới, gọi là Digital Influence (tạm gọi tắt là Ảnh hưởng của Truyền thông kỹ thuật số), được Tập đoàn Truyền thông Ogilvy Public Relations Worldwide phát triển. Thật đáng tiếc nếu các công ty không sử dụng được nguồn lực và môi trường sẵn có này để tạo cầu nối giữa DN và khách hàng. DN có thể để các thảo luận trên mạng diễn ra mà không tham dự vào, hoặc chủ động tham gia vào cuộc nói chuyện đó, và như vậy tức là hoạt động này vẫn diễn ra và có nhiều người không có được thông tin chính thức từ bạn.



Vấn đề tương tác với các cư dân mạng có tầm ảnh hưởng (gọi là influencer) không chỉ đơn thuần là đánh giá về một sản phẩm nào đó mà công ty hoặc DN mong muốn, mà tất cả đều xuất phát từ một chiến lược truyền thông chặt chẽ và các DN phải đem lại lợi ích thật sự khi đối thoại với influencer, xây dựng và tạo nên các mối quan hệ và ảnh hưởng có ý nghĩa bền vững.


Việc các DN tham gia diễn đàn chỉ để đối phó với các thông tin xấu là một bước đi lùi rất đáng tiếc. Các DN nên tham gia cộng đồng mạng để tạo ra những thông tin - hình ảnh tốt cho công ty. Việc bạn từ chối tham gia các thảo luận nói về thương hiệu của mình là một dấu hiệu không tích cực. Các đối thủ của bạn cũng có thể sẽ vào các diễn đàn này và cung cấp các thông tin sai lệch, gây nhiều bất lợi cho bạn.


PR kỹ thuật số trong thế kỷ hôm nay không phải đơn thuần chỉ là một xu hướng xã hội nhất thời.

THOMAS CRAMPTON, Giám đốc Bộ phận 360 Digital Influence Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Ogilvy Public Relations Worldwide


Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

Nấc thang đi lên



Để có được một chức vụ “ngon” trong công việc hiện tại, ngoài sự góp sức của yếu tố “may mắn”, phần lớn phụ thuộc vào bản thân bạn. Có lúc nào bạn tự hỏi “Mình đã nỗ lực hết chưa?” Nếu chưa thì hãy phấn đấu ngay đi nhé. Đó là một cách hay để tiến thân đấy.





  • Cố gắng hết sức

Ngay cả khi thấy công việc đang làm chẳng có gì thích thú hay thu hút, thì cũng phải cố hết sức, nhất là trong lĩnh vực đảm nhiệm.



  • Tình nguyện nhận làm thêm việc

Phải sẵn sàng đảm nhận thêm công việc khác, ngay cả khi bạn đã làm xong phần được giao. Đừng lười. Hãy hiểu rằng, chốn thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng.



  • Thân thiết với ban nhân sự

Hãy cố gắng duy trì mối quan hệ thân thiết với phòng nhân sự. Bên nhân sự luôn là người đưa ra kiến nghị thăng chức cho toàn bộ nhân viên.




  • Duy trì mối quan hệ với đồng nghiệp

Đáng sợ nhất là trong công ty lại có người nói ra nói vào. Vì vậy phải thân thiện với mọi người, tránh tình trạng “xỏ xiên” nhau, dễ bị chuốc họa vào thân.



  • Bộc lộ khả năng lãnh đạo

Khả năng không phải ai cũng có. Nếu bạn may mắn sở hữu một số tài lãnh đạo nào, thì đừng ngại khi bày tỏ quan điểm cũng như tài lãnh đạo. Đó chính là một cách để lấy phiếu bầu của mọi người và khẳng định đẳng cấp vượt trội. Nếu bạn đưa ra những chiến sách hấp dẫn, sẽ được đồng nghiệp ngưỡng mộ, còn sếp sẽ ghi nhận công lao đó. Xây dựng một hình ảnh đẹp trong mắt đồng nghiệp không phải dễ.




  • Chia sẻ kiến thức


Kiến thức của bạn sẽ tăng hơn rất nhiều nếu bạn biết chia sẻ với người khác. Do đó phải chia sẻ kiến thức, chứ không nên giữ bên mình.



  • Tìm kiếm lời khuyên

Đừng ngại khi hỏi ai một vấn đề bạn chưa thực sự hiểu thấu. Hãy hỏi họ bất cứ lúc nào bạn thấy khó khăn, không giải quyết được vấn đề.



  • Học thêm

Hãy tham gia các khóa học đào tạo ngắn hạn hoặc các hội thảo liên quan đến công việc bạn đang làm để nâng cao hiểu biết cũng như kiến thức chân thực để từ đó đạt hiệu quả cao hơn.



  • Có khả năng thuyết trình

Nói trước đám đông một cách thuyết phục không phải ai cũng hoàn thành tốt. Chính vì vậy bạn phải học hỏi để luôn tự tin trước số đông và thể hiện bản lĩnh của mình.




  • Hãy luôn đúng giờ

Hãy nhớ phải luôn đến công ty đúng giờ. Không được phép muộn, trừ những trường hợp bất khả kháng.



  • Luôn đúng hẹn

Phải hoàn thành mọi công việc được giao trước hạn chót, để gây thêm ấn tượng với sếp.



  • Kiên nhẫn

Không được vội vã. Thăng tiến là cả một quá trình lâu dài. Cần phải quan sát, đâu là thời điểm thích hợp để đẩy cạnh tranh lên cao trào.

Hãy nhớ là không được vội vã. Hãy bình tĩnh, rồi mọi thứ sẽ đi theo đúng quỹ đạo bạn mong muốn.



Bài học từ khủng hoảng nợ quốc gia của Ireland: Biến nợ tư thành nợ công



Tình trạng khủng hoảng nợ công của Ireland bắt nguồn từ việc chính phủ đã không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách nhiệm của một số ngân hàng.





Khủng hoảng nợ của Ireland khác với Hy Lạp ra sao?
Trong vài tuần qua, các vấn đề về khủng hoảng nợ của châu Âu được quan tâm
nhiều trở lại sau khi Ireland phải cầu cứu Liên hiệp châu Âu (EU) và Quỹ Tiền
tệ quốc tế (IMF) để tìm kiếm một khoản vay từ 80-90 tỉ euro hoặc có thể cao hơn
nữa tùy theo thỏa thuận của các bên.

Sự kiện này là một diễn biến mới trong tiến trình khủng
hoảng nợ quốc gia ở các nước châu Âu sau khi Hy Lạp đã được “cứu trợ” hồi đầu
năm. Tuy nhiên, khủng hoảng nợ của Ireland có nguồn gốc khác với khủng
hoảng nợ của Hy Lạp.

Khủng hoảng nợ của Hy Lạp xuất phát từ nguyên nhân chính là
khả năng quản trị tài chính công yếu kém của nước này với những khoản chi tiêu
của chính phủ quá lớn và vượt kiểm soát. Kết quả là thâm hụt ngân sách nước này
vượt trên 13% GDP và tổng nợ chính phủ trên GDP gần 130%.

Trong khi đó, quản lý nợ công của Ireland tương đối khá hơn với mức
nợ chính phủ trên GDP chỉ gần 70%. Mức thâm hụt ngân sách của Ireland gần đây tăng mạnh không kém
Hy Lạp là do chính phủ nước này phải bỏ tiền ra cứu trợ ngành ngân hàng, bao
gồm quốc hữu hóa ngân hàng và chi tiền để tái cấp vốn cho một số ngân hàng
trong nước.

Trong đề xuất về gói hỗ trợ từ EU và IMF, Chính phủ Ireland
sẽ còn tiếp tục dùng một phần trong khoản tiền đó để quốc hữu hóa hai ngân hàng
lớn của nước này là Bank of Ireland và Allied Irish Bank, tiếp tục bơm tiền để
tái cấp vốn cho nhiều ngân hàng để tăng tỷ lệ an toàn vốn của các tổ chức này.

Trước đó, nước này đã quốc hữu hóa Ngân hàng Anglo Irish
Bank do đó nếu cả hai ngân hàng lớn trên cũng bị quốc hữu hóa thì phần lớn hệ
thống ngân hàng nội địa của Ireland
bị quốc hữu hóa, nghĩa là nhà nước chiếm tỷ lệ sở hữu áp đảo trong các ngân
hàng này.

Vì sao Chính phủ Ireland phải quốc hữu hóa ngành
ngân hàng nội địa và phải tái cấp vốn cho các ngân hàng này? Câu trả lời là do
các ngân hàng nước này ngày càng phải gánh nhiều nợ xấu sau khi đã tăng cho vay
quá mạnh trong thời kỳ kinh tế nước này tăng trưởng mạnh và bong bóng bất động
sản phình to. Khi thị trường bất động sản nước này sụp đổ, nhiều phần trong các
khoản cho vay bất động sản này trở thành nợ xấu và các ngân hàng đứng trước
nguy cơ sụp đổ.

Tương tự như trường hợp của Mỹ, Chính phủ Ireland buộc phải
cứu hệ thống ngân hàng theo cách riêng của mình, đó là tạo ra một định chế tài
chính mới gọi là NAMA (National Asset Management Agency) vào năm 2009 để nhận
hầu hết tất cả các khoản nợ xấu của các ngân hàng lớn của Ireland.

Các ngân hàng của Ireland sẽ “bán” lại các khoản nợ
xấu này cho chính phủ để đổi lấy trái phiếu chính phủ. Như vậy, nói cách khác
Chính phủ Ireland đã biến nợ xấu của các ngân hàng này, những khoản nợ tư nhân,
thành “tài sản tệ hại” (toxic assets) mà chính phủ phải quản lý, nghĩa là trở
thành tài sản công (nhưng đang liên tục mất giá) và lấy tiền của ngân sách để
bù đắp cho các tổn thất của nó. NAMA có trách nhiệm quản lý các tài sản này và
cố gắng đem lại lợi nhuận tốt nhất cho ngân sách.

Điều này chỉ có thể xảy ra khi thị trường nhà hồi phục, nếu
không, bản thân NAMA sẽ tiếp tục cần cứu giúp để có thể tồn tại và tiền cứu
giúp lại sẽ phải đến từ ngân sách. Trước sau gì thì cách thức dùng tiền chính
phủ để duy trì các tài sản ngày càng xuống giá trong nền kinh tế và bơm vốn để
vực dậy khu vực ngân hàng của Ireland cũng sẽ buộc nước này phải liên tục đi
vay mượn và chấp nhận thâm hụt ngân sách cho đến khi họ không còn khả năng chi
trả nữa và phải đến cầu viện nước ngoài.

Vì vậy, khủng hoảng nợ của Ireland thực tế là do chính phủ
phải đi cứu trợ cho hệ thống ngân hàng nước này, khiến nợ xấu từ khu vực tư
nhân tạo thành gánh nặng nợ nần của chính phủ và cuối cùng chính phủ không đủ
tiền trả nợ phải đi cầu viện EU và IMF để có tiền tiếp tục cứu giúp hệ thống
ngân hàng của mình.

Kinh nghiệm cho Việt
Nam

Tình trạng khủng hoảng nợ công của Ireland bắt
nguồn từ việc chính phủ đã không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách
nhiệm của một số ngân hàng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng và nhà đất tạo
thành bong bóng. Mặt khác, chính phủ đã buộc phải chọn lựa bao cấp các ngân
hàng này khi họ thua lỗ.

Không chỉ đối với hệ thống ngân hàng mà đối với bất kỳ doanh
nghiệp lớn nào trong nền kinh tế, Nhà nước cần có sự giám sát chặt chẽ và can
thiệp kịp thời vì những tổ chức này khi đổ vỡ sẽ tạo ra những tác hại vô cùng
lớn cho nền kinh tế.

Khi các doanh nghiệp đó đổ vỡ rồi, vì lý do cứu vãn tăng
trưởng kinh tế, nhà nước phải cứu trợ cho các doanh nghiệp đó với lý lẽ là phải
cứu cả một ngành công nghiệp hay là cứu nền kinh tế khỏi suy thoái, bảo vệ việc
làm cho người dân.

Nhưng càng chi tiền cứu các ngân hàng thì càng phải chấp
nhận bội chi ngân sách sẽ càng lớn và khi đó niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài
vào trái phiếu chính phủ và đồng nội tệ sẽ càng thấp.

Khi Hy Lạp và Ireland lâm vào khủng hoảng nợ, hạng mức tín
nhiệm của trái phiếu các nước này bị hạ, chi phí lãi vay tăng lên cho các khoản
vay mới và chi phí bảo hiểm các khoản tiền vay của những nước này tăng mạnh.
Điều này tác động xấu đến tâm lý nhà đầu tư trong và ngoài nước, khiến cho kỳ
vọng về sự hồi phục kinh tế sẽ tiếp tục thấp.

Vì vậy nền kinh tế sẽ tiếp tục vật lộn với suy thoái kéo
dài. Khi mà niềm tin đã bị mất đi thì rất khó có thể tạo dựng lại. Điển hình là
trường hợp của Hy Lạp. Chi phí của một hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng của Hy
Lạp trước khi được cứu trợ là khoảng 12%, sau đó giảm xuống xung quanh 7% sau
khi được cứu trợ vào đầu năm, và bây giờ nó lại tăng trở lại lên trên 10%
(nghĩa là phải tốn khoảng 1 triệu euro để bảo hiểm cho một khoản nợ 10 triệu
euro).

Do đó, không thể chờ đến khi tổn thất xảy ra rồi mới tìm
cách tháo gỡ. Niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài (và cả trong nước nữa) đối với
triển vọng nền kinh tế và độ tín nhiệm của một chính phủ một khi đã bị tổn hại
thì khó có thể xây dựng lại nhanh chóng.

Vì vậy, ngay từ đầu, trong trường hợp của nước ta, rất cần
sự giám sát chặt chẽ đối với hệ thống tài chính và các doanh nghiệp lớn trong
nền kinh tế, giảm thiểu các khoản cho vay kém chất lượng và loại bỏ những doanh
nghiệp nhà nước lớn kém hiệu quả càng sớm càng tốt để tránh đến khi một doanh
nghiệp quá lớn để đổ vỡ bị lâm vào nguy cơ sụp đổ thì Nhà nước phải đứng ra bảo
lãnh và cứu trợ.

Trong tình huống đó, thâm hụt ngân sách và nợ công sẽ phải
chịu một gánh nặng quá lớn và trường hợp của Ireland là một kinh nghiệm. Việt Nam có lợi thế là độc lập trong chính sách tiền
tệ và đồng tiền của mình nên có nhiều công cụ để điều tiết nền kinh tế hơn so
với Ireland
đang nằm trong khối sử dụng đồng tiền chung.

Tuy nhiên, nếu chạy theo tăng trưởng, bỏ mặc an toàn hệ
thống và dung túng những doanh nghiệp có quy mô quá lớn nhưng thực tế chỉ còn
các vỏ bọc bên ngoài (như nước ngoài hình dung là những xác chết biết đi -
“zombie”) thì rủi ro khủng hoảng tài khóa và nợ công sẽ ngày một tăng lên. Vì
vậy, trường hợp của Ireland
hàm chứa những kinh nghiệm và cũng là một lời cảnh báo cần được chú ý.

Nguồn CafeF



7 giai đoạn của quá trình kinh doanh



Những ai lao vào con đường kinh doanh, nuôi chí trở thành ông chủ doanh nghiệp nên biết rằng từ ngày đầu thành lập cho đến lúc tan rã trong kinh doanh họ sẽ phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Trên thực tế tiến trình của con đường kinh doanh gồm có 7 giai đoạn. Nắm được 7 giai đoạn đó và biết cách lên kế hoạch sắp xếp cho chúng là điều hết sức quan trọng để đạt được những bước thành công trong kinh doanh của các chủ doanh nghiệp.





1. Giai đoạn "gieo hạt"


Đó là giai đoạn mà việc kinh doanh chỉ tồn tại trong suy nghĩ hay nói cách khác đó chỉ là ý tưởng, ý đồ kinh doanh. Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn "khai sinh" doanh nghiệp mới. Hầu hết các công ty trong giai đoạn này sẽ cần vượt qua thử thách: chấp nhận thị trường và theo đuổi 1 thời cơ thích hợp riêng biệt. Trong giai đoạn này chủ các doanh nghiệp nên cẩn trọng, không nên rải các nguồn tài chính quá mỏng.


Điểm trọng tâm của giai đoạn này làm sao chọn thời cơ kinh doanh phù hợp với kỹ năng, kinh nghiệm và niềm đam mê để khởi nghiệp. Và cũng đừng quên những điểm mấu chốt quan trọng khác đó là: quyết định chọn cơ cấu quyền sở hữu doanh nghiệp, tìm cố vấn chuyên nghiệp, và lập kế hoạch kinh doanh.


Những nguồn tài chính cho việc phát triển trong giai đoạn này có thể rất khó khăn để định vị. Bởi lẽ ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ phải tự tìm kiếm thị trường, khách hàng cho chính mình. Doanh nghiệp có thể sẽ phải dựa vào nguồn vốn vay mượn từ chủ sở hữu, bạn bè, gia đình, hay các nhà đầu tư cá nhân. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể sử dụng vốn từ nguồn khác như: nhà cung cấp, khách hàng, các khoản viện trợ của chính phủ.


2. Giai đoạn khởi động


Doanh nghiệp vừa được hình thành và tồn tại một cách hợp pháp. Các sản phẩm và dịch vụ hiện đã đi vào sản xuất và đã có những khách hàng đầu tiên. Trong giai đoạn kinh doanh này, những đòi hỏi về vốn và thời gian tìm kiếm thị trường được đánh giá khá cao. Và thử thách căn bản ở đây đó là không được để những khoản tiền dù là nhỏ nhất tuột khỏi tay. Chủ doanh nghiệp phải học cách khảo sát "tính thực tế" những nhu cầu từ phía khách hàng có thể mang lại lợi nhuận và chắc chắn rằng việc kinh doanh đang đi đúng hướng.


Giai đoạn khởi động đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết lập cơ sở khách hàng và thị trường cùng với nguồn ngân lưu được kiểm soát và theo dõi. Nguồn vốn hỗ trợ cho sự phát triển trong giai đoạn này có thể kêu gọi từ người sở hữu, bạn bè, gia đình, nhà cung cấp, khách hàng, đi vay hay các khoản viện trợ.


3. Giai đoạn phát triển


Ở giai đoạn này, doanh nghiệp đã trải qua "những năm chập chững biết đi" và nay phát triển thành một "đứa trẻ" thực sự. Các khoản doanh thu và khách hàng đang tăng lên điều đó đồng nghĩa với sự xuất hiện của những thời cơ mới cũng như những thách thức mới. Lợi nhuận sinh trưởng kéo theo tính cạnh tranh cũng tăng. Thử thách khốc liệt nhất trong giai đoạn này mà công ty phải đối mặt với đó chính là thực đơn không đổi các vấn đề đưa ra để giành lấy thời cơ và các nguồn tài chính. Để làm được điều đó đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiệu quả cao và có thể lên kế hoạch kinh doanh mới. Học hỏi để đào tạo nhân viên như thế nào cũng như việc quản lý và nghệ thuật giao phó, uỷ thác là chìa khoá cho sự thành công của giai đoạn này.


Chu trình nhịp sống tăng trưởng của các doanh nghiệp dựa trên sự vận hành của chính doanh nghiệp ấy theo một cách thức chuẩn hơn nhằm đáp ứng với khối lượng bán hàng và lượng khách hàng ngày càng tăng. Do đó doanh nghiệp cần áp dụng những hệ thống quản lý, phương pháp tính toán và vận hành tốt hơn. Đồng thời doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm và tuyển dụng những nhân viên có khả năng xử lý tốt các vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh. Nguồn vốn doanh nghiệp có thể tận dụng trong giai đoạn này đó là vay từ ngân hàng, từ lợi nhuận, đối tác, viện trợ và những lựa chọn cho thuê.


4. Giai đoạn ổn định


Trong giai đoạn thiết lập việc kinh doanh của công ty dường như đã "chín" và phát đạt với số lượng khách hàng trung thành chiếm vị trí trên thương trường. Tăng trưởng bán hàng không còn bùng nổ như trước nhưng vẫn duy trì trong tầm kiểm soát. Việc kinh doanh cũng trở thành một "thói quen" với các tiến trình tại chỗ nhằm bảo đảm cho tính kiên định, lâu dài đối với sự phát triển của doanh nghiệp.


Giai đoạn này doanh nghiệp có thể "tạm nghỉ ngơi" và hài lòng với những thành tích đã đạt được. Chủ doanh nghiệp đã làm việc cật lực và cũng cần thư giãn, tuy nhiên thương trường vô cùng tàn nhẫn, khốc liệt và mang tính cạnh tranh cao. Do vậy doanh nghiệp cần có một điểm tựa vững mạnh hơn trong hình ảnh lớn hơn. Những vấn đề như nhân tố kinh tế, tính cạnh tranh hay sự thay đổi thị yếu của khách hàng cũng như xu hướng có thể nhanh chóng làm cho mọi cố gắng trên của doanh nghiệp trở thành “công cốc công cò”. Do vậy chu trình nhịp sống của doanh nghiệp được thiết lập sẽ phải dựa trên những cải tiến và hoạt động năng suất.


Để có thể cạnh tranh được với thị trường vốn, chủ doanh nghiệp sẽ cần đến những hoạt động kinh doanh tốt hơn và quy mô lớn hơn cùng với kỹ thuật tự động hoá và đổi mới các thiết bị nhằm cải thiện năng suất kinh doanh. Nguồn vốn cho giai đoạn này có thể lấy từ các khoản lợi nhuận, vay ngân hàng, nhà đầu tư và các khoản viện trợ của chính phủ. Con đường kinh doanh gồm 7 giai đoạn nhưng không phải chúng diễn ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh.


5. Giai đoạn mở rộng


Sự tăng trưởng mới trong thị trường mới và các kênh phân phối là những đặc trưng cơ bản dễ thấy trong giai đoạn này. Đây là giai đoạn cho sự lựa chọn của các ông chủ doanh nghiệp nhỏ nhằm chiếm lĩnh những phần lớn hơn của cổ phần thị trường và tìm kiếm nguồn doanh thu mới cũng như các kênh kinh doanh khác mang lại lợi nhuận. Việc mở rộng vào những thị trường mới đòi hỏi sự nghiên cứu và lên kế hoạch cho việc kinh doanh ở giai đoạn "gieo hạt" và "khởi động". Chủ doanh nghiệp nên tập trung những công việc kinh doanh mạo hiểm một chút. Điều này sẽ làm giàu thêm khả năng hiện tại và kinh nghiệm của chính họ.


Tiến lên phía trước lao vào những lĩnh vực kinh doanh mới không liên quan có thể là cách thử sức với những thử thách tàn khốc. Cụ thể là doanh nghiệp nên tăng thêm những sản phẩm, dịch vụ mới và tung ra thị trường hiện tại hay mở rộng những sản phẩm dịch vụ đã có vào thị trường mới, vào các đối tượng khách hàng khác nhau và hoặc thị trường định hướng tới. Nguồn vốn cho giai đoạn mở rộng có thể lấy từ liên doanh, các ngân hàng, nhà đầu tư mới, đối tác.


6. Giai đoạn suy thoái


Những thay đổi về điều kiện thị trường, xã hội, nền kinh tế có thể làm giảm số lượng bán hàng, do đó lợi nhuận cũng giảm theo. Vấn đề này có thể làm cho nhiều doanh nghiệp nhỏ phá sản nhanh hơn. Bởi các doanh nghiệp trong giai đoạn này sẽ phải đương đầu với rất nhiều thử thách như lợi nhuận và doanh số bán hàng suy giảm, dòng ngân lưu có thể rơi vào tình trạng thâm hụt. Vấn đề lớn nhất đó là kéo dài thời gian để doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho dòng ngân lưu đang không mấy khả quan này.


Chủ doanh nghiệp có thể bắt đầu tự hỏi liệu đã đến lúc chuyển sang giai đoạn cuối cùng của chu trình nhịp sống doanh nghiệp - giai đoạn từ bỏ (tan rã) hay chưa. Họ cũng nên tìm kiếm những cơ hội mới, những mạo hiểm kinh doanh mới. Biện pháp cắt giảm chi phí và tìm ra những hướng đi mới nhằm mở rộng dòng ngân lưu là những việc làm cấp bách, cần thiết cho giai đoạn này. Nguồn vốn có thể huy động từ nhà cung cấp, khách hàng, những người sở hữu.


7. Giai đoạn tan rã


Giai đoạn này là thời điểm toàn bộ cả năm cố gắng và làm việc vất vả lao vào kinh doanh đồng khởi ra đi, hoặc nó có thể hiểu đơn giản là chấm dứt công việc kinh doanh toàn bộ. Việc bán doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi, nó đòi hỏi phải đánh giá thực tế tình hình công ty kỹ càng. Những năm làm việc cật lực để xây dựng công ty đôi khi thật khó khăn nén lại để xem xét đánh giá tình hình thực tế để quyết định đâu là giá trị đích thực của công ty (vị thế của công ty) trong thương trường hiện tại.


Nếu một ông chủ doanh nghiệp bắt đầu tìm cách để đóng cửa doanh nghiệp, thì ông ta sẽ phải đối mặt với thử thách liên quan đến vấn đề tài chính và tâm lý của sự thua lỗ. Đó là việc cần thiết để có được giá trị đích thực và chuyên nghiệp của công ty. Chủ doanh nghiệp cũng nên xem xét cách vận hành, rào cản cạnh tranh và cách quản lý sao cho công ty có thể đáp ứng và làm hài lòng khách hàng.


Trong giai đoạn này, việc thiết lập văn bản thoả thuận mua bán hợp pháp cùng với kế hoạch chuyển nhượng kinh doanh là điều rất quan trọng. Và nguồn vốn cho giai đoạn này chính là đối tác đánh giá kinh doanh. Các cố vấn tài chính và kế toán có thể đưa ra chiến lược thuế tốt nhất để quyết định xem nên bán hay đóng cửa doanh nghiệp.


Chú ý


Các giai đoạn của chu trình nhịp sống doanh nghiệp chắc chắn sẽ không xảy ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh. Số khác có thể không tiến đến giai đoạn mở rộng và chỉ dừng ở giai đoạn ổn định. Thành công rực rỡ hay thẩt bại thảm hại trong kinh doanh là tuỳ thuộc vào tài năng của chủ doanh nghiệp thích nghi với các thay đổi của chu trình cuộc sống.

Điều mà họ nên làm là tập trung và áp dụng các biện pháp nhằm giúp công ty vượt qua giai đoạn khó khăn đó. Và những biện pháp này sẽ có tác động đến công ty sau này. Hiểu được việc áp dụng những giai đoạn nào trong chu trình kinh doanh là thích hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được bất kỳ thách thức nào phía trước và đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn.




Thổ Nhĩ Kỳ bỏ lệnh cấm Youtube



Thổ Nhĩ Kỳ vừa quyết định dỡ bỏ lệnh cấm truy nhập vào Youtube sau 2 năm phong tỏa trang chia sẻ video nổi tiếng này. Tháng 3 năm 2007, một tòa án của thổ Nhĩ Kỳ đã ra lệnh cấm trang YouTube tại nước này do đã có những nhận xét (comments) xúc phạm đến nhà lập quốc Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ là Mustafa Kemal Ataturk. Lệnh cấm này sau đó được dỡ bỏ; tuy nhiên, những video có lời lẽ lăng mạ nhà lập quốc của nước này đã khiến Youtube chịu thêm lệnh cấm khác và cuối cùng YouTube bị cấm hoàn toàn tại đây vào tháng 5 năm 2008, với lệnh cấm kéo dài hơn 2 năm.





Giờ đây, theo Bộ trưởng Giao thông Thổ Nhĩ Kỳ Binali Yildirim, lệnh cấm đã được dỡ bỏ khi các đoạn video vi vi phạm được loại bỏ khỏi YouTube. "... Chúng tôi đã không dễ dàng khi làm điều này, chúng tôi đã phải xem xét rất nhiều đến điều này. Tôi hy vọng rằng họ có thể học được từ kinh nghiệm này và điều tương tự sẽ không được xảy ra lần nào nữa. YouTube rất hy vọng sẽ thực hiện tổ chức của mình ở Thổ Nhĩ Kỳ trong không khổ pháp luật cho phép trong tương lai," Bộ trưởng nói.


Trong một bản tuyên bố, Youtube cho biết: "Chúng tôi muốn được rõ ràng rằng một bên thứ ba, không phải YouTube, có vẻ như đã loại bỏ một số video đã gây ra sự việc Youtube bị chặn tại Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách sử dụng quy trình khiếu nại bản quyền tự động của chúng tôi. Chúng tôi đang điều tra xem liệu hành động này có hợp lệ theo quy định trong chính sách bản quyền của chúng tôi hay không".


Dichthuatonline.net theo: 
Mashable



Bài học từ một chiếc đĩa CD



Chuyện xảy ra đã gần 10 năm rồi nhưng đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in từng chi tiết của câu chuyện.

Vào khoảng giữa năm 2002 tôi mới bắt đầu làm quen lĩnh vực thiết kế web cho nên vẫn còn đang tìm tòi học hỏi. Ban đầu tôi học Photoshop trước và tại thời điểm đó tài liệu không nhiều như bây giờ. Lúc đó vẫn đang là sinh viên nên còn nghèo (giờ vẫn nghèo), tôi có kiếm được một cuốn ebook rất hay về Photoshop.Tựa đề là Photoshop Classroom in a book.





Bởi vì là phiên bản download "chùa" không có file đính kèm nên cũng gây nhiều phiền toái trong lúc học. Tôi cũng tìm kiếm trên mạng rất nhiều và tình cờ kiếm được một trang web chuyên về Photoshop Tutorial và đặc biệt có những file đính kèm của cuốn sách tôi đang học.


Giống như “ăn mày gặp chiếu manh, chết đuối vớ phải cây chuối”, tôi download liền mấy file về thực tập. Nhưng trên trang web đó chỉ có đến chương thứ 5 thì hết. Nên tôi đành liên hệ với quản trị viên của trang web đó. Ông tên là David Logan.


Tất nhiên là email xin xỏ cho nên tôi cũng toàn viết những lời lẽ bố láo lừa đảo, chim xa tổ, lá xa cành, anh anh em em ngọt sớt … rồi đại loại là xin ông cho link download mấy chương sách còn lại.


Những email đầu tiên ông ấy gửi cho tôi một vài chương mà tôi yêu cầu. Sau đó tôi lại xin thêm mấy chương nữa. Ông ấy với chất giọng vẫn rất lịch sự, nhiệt tình và rất thân thiện, gửi tiếp cho tôi thêm 3 chương nữa.


Email lần thứ 3 tôi có hỏi những chương còn lại, ông ý mới nói “anh cho tôi địa chỉ của anh, tôi sẽ gửi một đĩa CD chứa hết các bài tập cho anh“. Cũng bán tín bán nghi, tôi cho ông ý địa chỉ của tôi.


Khoảng một tuần sau tôi nhận được một gói bưu phẩm gửi từ Canada sang Hà Lan. Tôi thực sự bất ngờ với món quà nhỏ mà đấy ý nghĩ này. Về giá trị vật chất thì chiếc đĩa đó không đáng là bao. Nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mãi cảm giác cũng như niềm biết ơn vô bờ đến con người chưa bao giờ gặp mặt mà chỉ vài email đã bỏ công sức chép ra CD, mang ra bưu điện và gửi cho tôi.



Từ đó tôi có suy ngẫm nhiều về cách hành xử giao tiếp giữa người quản lý trang web và người đọc. Lúc ban đầu khi trang web mới hình thành bạn còn có nhiều động lực để trả lời email, comment. Nhưng khi trang web đã lớn mạnh, bạn dần dần quên đi “nhiệm vụ” này. Có người rất ít khi trả lời email được gửi về, hoặc có trả lời thì cũng với thái độ trịnh thượng, kể cả, ban ơn. “Câu này tôi nói nhiều rồi mà, vô diễn đàn mà search”, “oài, sao vấn đê đơn giản thế mà cũng phải hỏi? tự google đi” v.v..


Khi bạn làm ra trang web thì người đọc là phần quan trọng nhất của trang web. Đó chính là lỹ lẽ sống của một trang web, không có họ bạn chỉ còn là người tự nói cho mình nghe. Do vậy bạn hãy quan tâm đến người đọc của mình, đặt lợi ích của họ lên trên hết mọi thứ, hãy tự hỏi nếu bạn là người đọc của chính mình, bạn có thấy vui không khi vào trang web v.v..


Chính vì rút ra được từ kinh nghiệm trên mà tôi luôn cố gắng trả lời tất cả các email gửi về cho trang web của mình. Tôi thậm chí kiểm tra cả hòm thư rác để đảm bảo không email nào “lọt lưới”. Tôi cũng luôn cố gắng đặt địa vị mình vào vị trí của các bạn và xem xem có thể làm gì để khi các bạn đến với izwebz là có cảm giác gần gũi, thân thiện, không có gì phải dấu diếm, không có link ẩn, không có password, không có box kín hoặc box VIP.


Mỗi tutorial đều có demo và source code, mỗi video đều đó hai phiên bản cho các bạn download và xem online, mỗi chương sách đều đó phiên bản .pdf cho các bạn xem online và offline. Tóm lại, tôi luôn đạt lợi ích của các bạn lên trên hết.


Tôi luôn tin rằng nếu các bạn thực sự hài lòng với một trang web thì về lâu về dài đó là cái lợi rất lớn cho trang web. Chính vì thế bài học rút ra từ đây sẽ là cho dù trang web của bạn có nhỏ xíu hoặc lớn mạnh, hãy dành thời gian cho người đọc của bạn. Hãy coi họ là những người bạn của bạn và giữ thái độ thân thiện, chuyên nghiệp và vui vẻ. Đừng gắt gỏng, đừng giáo điều, đừng chỉ trích, đừng chế giễu với những người mới. Ai cũng phải bắt đầu từ một điểm nào đó.



Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

Elad Blog: Are You A Visionary Entrepreneur?

Elad Blog: Are You A Visionary Entrepreneur?: "I think of all the entrepreneurs I have been helping out over the last year or so, 3 stand out as what I would characterize as 'Visionary En..."


Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

Kết hợp Microsoft Office và Google Docs



Microsoft Office (từ đây sẽ gọi là Office) 2010 sắp ra mắt, bạn đang băn khoăn liệu có nên mua một bản hay chuyển sang dùng Google Docs, vừa miễn phí lại có thể truy cập được ở mọi nơi? Vậy đã bao giờ bạn nghĩ đến việc kết hợp cả hai bộ ứng dụng ấy lại với nhau chưa?





Bài viết sau sẽ giúp bạn sử dụng tốt những tính năng ưu việt của Office cùng với sự tiện lợi do "đám mây" Google Docs mang lại.



Khi nào thì nên dùng Google Docs hoặc Office?



Google Docs

Tính năng mạnh nhất của Google Docs là tạo ra các tài liệu với khả năng chỉnh sửa thời gian thực cho nhiều người dùng tại cùng một thời điểm. Do Google Docs có thể theo dõi từng file, bạn có thể thấy chính xác những gì đã bị thay đổi, hoặc đổi ngược lại phiên bản cũ hơn của file đó.



Vấn đề lớn nhất với Google Docs đó là bạn luôn cần Internet để truy cập. Ngoài ra, Google Docs không hỗ trợ nhiều tính năng chỉnh sửa và công thức nâng cao như chưa hỗ trợ toàn diện cho tất cả định dạng của Office và không cho phép upload những file Office lớn, đặc biệt là những file thuyết trình nhiều hình ảnh.




Microsoft Office

Lý do lớn nhất mà bạn dùng Microsoft Office đó là sự hỗ trợ tối đa cho công việc văn phòng không cần kết nối mạng. Bạn có khả năng truy cập tới tất cả những chức năng mà Office hỗ trợ, làm việc với file dung lượng lớn. Vấn đề ở đây là sự thiếu hụt về chức năng làm việc nhóm nếu bạn không dùng một máy chủ SharePoint. Phiên bản Office Web vẫn còn phải cải thiện nhiều mới bắt kịp Google Docs.



Giải pháp:



1. Sử dụng Google Docs và Microsoft Office cho mục đích khác nhau



Giải pháp đơn giản nhất hiện nay là dùng Office để tạo những file dùng chủ yếu khi ngoại tuyến, và dùng Google Docs để chia sẻ và chỉnh sửa những file cần sự phối hợp trong quá trình làm việc. Chẳng hạn, bạn cần một bảng tính theo dõi yêu cầu của khác hàng, Google Docs là lựa chọn tuyệt vời để theo dõi trực tuyến. Ngược lại, nếu bạn làm việc trên tài liệu chuyên biệt, bạn có thể dùng Office để tạo, chỉnh sửa và chia sẻ khi bạn hoàn tất.



2. Dùng OffiSync để chỉnh sửa file Google Docs trên Microsoft Office






Nếu bạn muốn dùng Google Docs để chia sẻ nhưng cần khả năng chỉnh sửa nâng cao cảu Office, bạn có thể dùng plug-in OfficeSync để mở và lưu tài liệu trực tiếp lên Google Docs. Bạn còn có thể đặt quyền truy cập, chuyển đổi giữa Office và Google Docs trong giây lát, chia sẻ tài liệu với mọi người. Trong tương lai gần, Google sẽ cung cấp plug-in riêng của họ (Docverse) với chức năng tương tự.





Vấn đề duy nhất gặp phải khi dùng OffiSync đó là bạn cần phải có kết nối mạng để có thể mở tài liệu. Giải pháp tiện lợi nhất là mở sẵn tài liệu tại một khu vực có Internet, lưu vào máy và bạn có thể yên tâm ngắt kết nối.




Phiên bản miễn phí của OffiSync có một vài hạn chế như bạn không thể truy cập vào tài liệu trong các thư mục Google Sites, truy cập file với định dạng gốc,… Với 12 USD một năm hoặc 30 USD dùng không giới hạn, OffiSync không phải là quá đắt.



Chia sẻ file ở định dạng gốc

Bất cứ khi nào bạn upload một file lên Google Docs, file đó sẽ được chuyển sạng định dạng của Google, và khi bạn download file đó về máy, định dạng sẽ được chuyển về ban đầu. Đôi khi, định dạng bị sai hoặc thiếu sót trong quá trình chuyển đổi. Nếu bạn muốn chia sẻ với độ an toàn tuyệt đối, bạn có thể tự upload file lên Google Docs, sau đó bỏ chọn ô "Convert documents, presentations, and spreadsheets".





Nhược điểm của phương pháp này đó là bạn không thể chỉnh sửa những tài liệu nguyên gốc. Mọi người phải upload lại nếu họ đã thay đổi nội dung của chúng. Chẳng mấy chốc, bạn sẽ đạt đến giới hạn 1GB của tài khoản Google miễn phí.



3. Tải file lên Google Docs từ Explorer






Bạn có thể dùng phần mềm DocList Uploader để tải hàng loạt file lên Google Docs thay vì tự tay upload từ file một. Chỉ đơn giản là chạy ứng dụng, đăng nhập vào tài khoảng Google của bạn là bạn đã có thể upload file bằng cách kéo-thả. Bạn cũng có thể tải nhiều file từ Google Docs về máy tính với cách tương tự.



4. Đồng bộ Outlook với Google Calendar và Gmail



Trong bài viết này, chúng ta chủ yếu tập trung vào google Docs, nhưng cũng không thể nhắc đến việc đồng bộ Outlook với các ứng dụng của Google. Bạn có thể cài đặt Outlook dùng chế độ IMAP hoặc POP3 để có thể tương thích tối đa với Gmail và Google Calendar. Bạn cũng có thể dùng ứng dụng Google Calendar Sync để đồng bộ lịch giữa hai dịch vụ nếu ngại cài đặt các thông số.



5. Dùng các add-on của Google Apps







Google Apps Marketplace cung cấp cho bạn nhiều ứng dụng để dùng với tên miền Google Apps của bạn, do đó, bạn có thể nhanh chóng thêm vào những tùy chọn làm việc chung, chẳng hạn như ứng dụng GQueues, một ứng dụng quản lí công việc tích hợp tối đa cho Google Calendar và Google Apps. Với ứng dụng Gbridge, bạn có thể cài đặt VPN để chia sẻ file từ xa, Manymoon cung cấp chức năng tương tự như lại miễn phí.



Hi vọng với những mẹo vặt trên, việc chia sẻ và biên tập tài liệu trực tuyến của bạn sẽ trở nên dễ dàng hơn.




Thứ Năm, 6 tháng 5, 2010

Sự khác biệt giữa marketing cho người tiêu dùng (B2C) và cho doanh nghiệp (B2B)



Dù tin hay không, luôn có sự khác biệt lớn giữa marketing cho doanh nghiệp ( B2B) và cho người tiêu dùng ( B2C).

Khi làm marketing cho khách hàng là doanh nghiệp, bạn sẽ phát hiện ra là họ có cả một quy trình mua hàng giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc. Điều này thường giải thích lý do tại sao khi mua hàng, các doanh nghiệp thường chú trọng tới yếu tố logic trong khi đó người tiêu dùng thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm xúc.





Thực tế, chi phí bán hàng cho khách hàng là doanh nghiệp (B2B) cao hơn nhiều so với người tiêu dùng (B2C). Cách giải thích đơn giản nhất là những giao dịch trong thị trường B2B phải trải qua quá trình đánh giá nhu cầu, tìm hiểu thông tin, phân tích và ra quyết định.


Marketing cho khách hàng là doanh nghiệp


Khi marketing cho khách hàng là doanh nghiệp, bạn cần tập trung vào tính logic của sản phẩm bằng cách chú trọng hơn vào đặc điểm chức năng. Yếu tố cảm xúc trong quá trình ra quyết định thường không đóng vai trò quan trọng. Bạn cũng cần phải nắm rõ bộ phận thu mua gồm những ai và vai trò của họ ở đâu trong quá trình thu mua của doanh nghiệp. Nhóm khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu tìm hiểu thông tin rất lớn. Trong các tài liệu tiếp thị, nên đưa vào những thông tin mang tính chiều sâu. Thông điệp marketing hiệu quả nhất sẽ xoáy sâu phân tích xem sản phẩm hay dịch vụ bạn cung cấp có thể giúp khách hàng tiết kiệm bao nhiêu thời gian, tiền bạc và nguồn lực.


Họ quan tâm nhiều hơn tới tính logic đằng sau sản phẩm. Họ sẽ muốn nghe nhiều hơn về những đặc điểm và chúng giúp họ tiết kiệm thời gian, ngân sách và nguồn lực như thế nào.



Marketing cho người tiêu dùng



Khi marketing tới người tiêu dùng, bạn thường tập trung vào lợi ích của sản phẩm. Quyết định của họ thường bị ảnh hưởng bởi cảm xúc nhiều hơn. Marketing cho người tiêu dùng còn khác biệt ở chỗ họ đòi hỏi sự tiên lợi khi mua hàng (yếu tố phân phối) trong khi đó thị trường B2B thì không. Người tiêu dùng không thích những thông điệp marketing dài luộm thuộm, họ muốn đi thẳng vào vấn đề. Họ không muốn phải bỏ thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về lợi ích, thay vì vậy bạn cần phải chỉ rõ cho họ thấy lợi ích cụ thể là gì. Chiến lược marketing hiệu quả nhất sẽ tập trung vào kết quả và lợi ích cụ thể sản phẩm hay dịch vụ bạn mang lại.


Người tiêu dùng thường mua hàng dựa trên cảm xúc. Họ quan tâm nhiều hơn tới lợi ích của sản phẩm. Họ muốn biết là những sản phẩm, dịch vụ sẽ mang tới cho bản thân cá nhân họ những ích lợi cụ thể ra sao.


Ví dụ bạn bán sản phẩm thuốc sức ngoài da. Loại thuốc này sẽ giúp dưỡng ẩm cho da và làm hết ngứa hay dị ứng.


Nếu bạn bán cho khách hàng là doanh nghiệp, họ sẽ quan tâm tới đặc điểm là tính năng dưỡng ẩm ra sao. Trong khi đó nếu là người tiêu dùng thì họ sẽ quan tâm tới lợi ích là giảm ngứa và dị ứng.


Nếu hiểu rõ hành vi của từng nhóm khách hàng trong quá trình ra quyết định mua hàng, chúng ta sẽ có những quyết định marketing hiệu quả hơn.


Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

Kỷ niệm 205 năm ngày sinh Hans Christian Andersen (2.04.1805-2010)




Hans Christian Andersen (2 tháng 4, 1805 – 4 tháng 8, 1875; tiếng Việt thường viết là Hen Crít-tan Anđécxen) là nhà văn người Đan Mạch chuyên viết truyện cổ tích cho thiếu nhi. Trong tiếng Đan Mạch, tên ông thường được viết là H.C. Andersen.





Cách đây 205 năm, vào ngày 02.04.1805, có một người được sinh ra trong ngôi làng ngập tràn gió biển vùng Odense, dưới bầu trời đầy sao của xứ sở Đan Mạch xa xôi. Như một thiên sứ được gửi xuống trần gian để thực hiện sứ mệnh cứu rỗi loài người, người đó, ba chục năm sau đã trở thành một trong những người kể chuyện cổ tích hay nhất hành tinh: nhà văn Hans Christian Andersen.



Bất chấp những khó khăn, bất hạnh và sự đối xử không công bằng của cuộc đời, Andersen đã mang đến thế giới này hàng trăm câu chuyện kể, những câu chuyện được viết nên từ một bộ óc thông minh, một trái tim nhân hậu và một cái nhìn hồn nhiên trong trẻo về cuộc sống. Những câu chuyện được viết nên với lòng yêu thương và "kính trọng" trẻ em, những câu chuyện mang niềm tin bất diệt về sức mạnh của điều thiện và sự chiến thắng của lòng nhân ái...


Hai trăm lẻ năm đã trôi qua, biết bao thế hệ trẻ em của thế giới này đã được lớn lên bằng dòng sữa mẹ và ước mơ về một thế giới thần tiên mà Andersen đã tạo ra...Ở đó, con người sống với lòng dũng cảm của "chú lính chì", lòng nhân hậu của "bác sồi già", sự trung thực của "cô bé với đôi giày đỏ", tinh yêu của "nàng tiên cá" và niềm lạc quan, yêu đời của "chú hoạ mi". Ở đó, vạn vật trong vũ trụ, từ những nhành cây, chiếc lá, bông hoa đến chú vịt con xấu xí, bầy chuột đồng nghịch ngợm, cô thiên nga xinh đẹp...đều có linh hồn và tiếng nói, đều tồn tại cùng với con người trong một thế giới chung, một thế giới được "vận hành" theo quy luật của lòng nhân ái và điều thiện sẽ chiến thắng cái ác, sự bao dung và chính trực sẽ chiến thắng những lọc lừa...



Hai trăm lẻ năm cũng đủ dài để loài người nhận ra rằng Andersen không chỉ là một nhà văn của trẻ thơ: ẩn chứa đằng sau mỗi câu chuyện cổ tích dành cho con trẻ của ông là một câu chuyện ngụ ngôn viết cho người lớn, những câu chuyện ngụ ngôn làm thức tỉnh con người, truyền cho họ niềm tin và sức mạnh...Có lẽ sẽ không là cường điệu khi nói rằng chính những câu chuyện cổ tích dành cho người lớn của Andersen đã góp phần đưa nhân loại vượt qua hai thế kỷ đầy biến động...Hãy yêu quý và tôn trọng trẻ em, hãy nuôi dưỡng sự hồn nhiên và lòng nhân ái, hãy yêu và nhìn thế giới này bằng trái tim và đôi mắt trẻ thơ...Đó chính là thông điệp mà Andersen cùng những câu chuyện cổ tích của mình muốn gửi đến cho nhân loại...


Tượng Andersen được đặt trang trọng tại thành phố quê hương ông Odense, ông là công dân danh dự của thành phố này.


Sơ lược tiểu sử nhà văn Hans Christian Andersen


Hans Christian Andersen (1805–1875) là nhà văn danh tiếng nhất của nước Đan Mạch. Các truyện của ông được phổ biến rộng rãi trong nền văn chương thế giới bởi vì các tác phẩm này đã làm cho giới độc giả trẻ tuổi tin tưởng và say mê qua nhiều thế hệ. Andersen sinh ra đời tại Odense, Đan Mạch, là con trai của một người thợ đóng giầy nghèo khó, qua đời lúc cậu mới 11 tuổi. Vào thuở thiếu thời, cậu bé này đã phải sống trong khu nhà tồi tàn, phải tranh đấu để vươn lên trong một xã hội có nhiều giai cấp gò bó. Sau khi theo học tại một ngôi trường dành cho các trẻ em nghèo, Andersen rời bỏ Odense vào tuổi 14 để theo nghề nghệ sĩ tại thủ đô Copenhagen. Mặc dù cố gắng kiếm ăn bằng các công việc như kịch sĩ, ca sĩ, diễn viên múa, Andersen vẫn nằm trong cảnh túng thiếu. Tại Copenhagen, Andersen được ông Jonas Collin, một trong các giám đốc của Rạp Hát Hoàng Gia giúp đỡ và ông này trở thành người bạn thâm niên.



Nhờ ông Jonas Collin, Andersen nhận được một học bổng để theo đại học Copenhagen vào năm 1828. Năm sau, Andersen viết ra vở kịch đầu tiên, có tên là “Tình Yêu trong Tháp của Nhà Thờ Thánh Nicolai” (Love in St. Nicolai Church Tower). Andersen cũng viết các tiểu thuyết và các vở kịch nhưng các sáng tác này ít khi được đọc bên ngoài miền đất Scandinavia. Cuốn tiểu thuyết danh tiếng nhất của ông là “Ứng Tác” (Improvisation, 1835).



Vào năm 1835, Hans Christian Andersen cho xuất bản tập truyện thần tiên đầu tiên và ông tiếp tục viết tới tập thứ 156 trước khi qua đời. Tập thứ nhất gồm các câu chuyện như “Chiếc Hộp dễ cháy” (The Tinder Box), “Claus nhỏ và Claus lớn” (Little Claus and Big Claus), “Nàng Công Chúa và Hạt Đậu” (The Princess and the Pea), “Các Bông Hoa của Bé Ida” (Little Ida’s Flowers)... Các truyện của Andersen trở nên phổ biến vào đầu thập niên 1840.



Các tác phẩm của Hans Christian Andersen đã mở ra một đường hướng mới về nội dung và thể văn bởi vì ông là một nhà cải cách thực sự trong phương pháp kể chuyện. Các câu chuyện của ông hấp dẫn trẻ em lẫn người lớn do tác giả đã đưa vào trong truyện các cảm xúc và ý tưởng ngoài tầm hiểu biết tức thời của trẻ em, trong khi những yếu tố này vẫn còn nằm trong tầm nhìn của lớp thiếu niên. Andersen đã khéo léo phối hợp khả năng kể chuyện tự nhiên và trí tưởng tượng dồi dào, đã dùng các đặc tính phổ thông trong các truyền thuyết nhân gian để sáng tạo ra những câu chuyện liên quan tới nhiều nền văn hóa.



Do là một nhà văn danh tiếng, Hans Christian Andersen đã quen với nhiều nhân vật trong hoàng gia Đan Mạch, thân với các nghệ sĩ lừng danh như nhà soạn nhạc Franz Liszt (1811-1886), nhà thơ Heinrich Heine (1797-1856), các tiểu thuyết gia như Victor Hugo (1802-1885) và Charles Dickens (1812-1870). Ông Andersen cũng từng du lịch khắp châu Âu và viết ra nhiều cuốn sách liên quan đến các kinh nghiệm của ông, trong số này đáng kể nhất là cuốn “Tạp Ghi của Nhà Thơ” (A Poet’s Bazaar, 1842) và “Tại Thụy Điển” (In Sweden, 1851). Một cuốn sách tự thuật khác của ông là cuốn “Chuyện Thần Tiên của Đời Tôi” (The Fairy Tale of My Life, 1855).



Hans Christian Andersen là một nhân vật thành công và danh tiếng do các tác phẩm nhưng ông không lập gia đình. Ông đã từng yêu ba phụ nữ trong đó có nữ ca sĩ người Thụy Điển Jenny Lind và cô ái nữ của ông Jonas Collin, nhưng không người đẹp nào đáp lại tình yêu của ông.




Loại truyện trẻ em của ông bao gồm những chuyện thần tiên, chuyện nhân gian, thường hàm chứa các đức tính tốt, các sự việc cao đẹp, mô tả các đời sống đơn giản hơn thông thường, với các điều lành và điều dữ dễ dàng nhận rõ. Loại truyện này cũng liên quan tới các con vật biết nói, với phần kết có những người tốt, người thiện được tưởng thưởng và các kẻ xấu, kẻ gian bị trừng phạt. Trong cốt truyện cũng kể tới các cuộc đi xa, các biến động, nhiều vấn đề rắc rối... nhưng cuối cùng, đời sống tiếp tục tươi sáng với tương lai nhiều hứa hẹn.



Có nhiều truyện trẻ em danh tiếng được nhiều người biết tới, chẳng hạn như chuyện Bạch Tuyết, Cô Bé Lọ Lem, Nàng Công Chúa Ngủ Trong Rừng... Các nhà văn viết truyện trẻ em lừng danh như Charles Perrault người Pháp, anh em Grimm người Đức, đã tạo nên những câu chuyện rất phổ thông, gây ảnh hưởng tới nền văn chương của phương Tây. Một bậc thầy khác về nghệ thuật viết truyện thần tiên hay truyện trẻ em là nhà văn Hans Christian Andersen. Các truyện của Andersen có nguồn gốc từ các truyền thuyết nhân gian, lại hàm chứa bên trong thể văn cá nhân và các yếu tố tự thuật hay tính châm biếm xã hội đương thời.


(Nguồn: Wikipedia, Vietlove.com, 60s.com.vn; ảnh: Google)



Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

"Titanic" sẽ trở lại trong phiên bản 3D



Jeffrey Katzenberg (sinh ngày 21/12/1950; nhà sản xuất và giám đốc điều hành của hãng phim DreamWorks Animation) đã đúng khi tuyên đoán: 3D là công nghệ tương lai của điện ảnh. Trong bài phỏng vấn trên báo USA Today, đạo diễn phim AvatarTitanic James Cameron đã tiết lộ kế hoạch đưa siêu phẩm điện ảnh Titanic quay lại rạp trong năm 2010 với phiên bản 3D.





Sau thành công của Avatar và hiện nay là Alice in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên)(bộ phim bom tấn mới nhất của hãng Walt Disney và đạo diễn Tim Burton), các studio đã 'đua nhau' trình làng những bộ phim 3D bom tấm. Chính nhờ công nghệ máy tính, mà các hiệu ứng 3D có thể được thêm vào các đoạn phim mà không cần sử dụng các loại camera chuyên dụng 3D như đạo diễn Cameron đã sử dụng cho Avatar. Một trong những bộ phim không sản xuất bằng máy quay 3D mà dùng công nghệ chuyển đổi 3D đó là bộ phim sắt trình trình chiếu của hãng Warner Bros.’s có tên là Clash of the Titans (tạm dịch là Cuộc chiến của các vị thần-Truyện phim xoay quanh người anh hùng Perseus, một người trần bị thần Hades hãm hại cả gia đình. Từ đó, Perseus đã tình nguyện dẫn dẫn đầu một đoàn quân tới đánh bại thần Hades trước khi hắn có mưu đồ cướp được quyền lực từ thần Zeus và biến trái đất thành địa ngục.); thời gian chuyển đổi sang 3D ước tính khoảng 8 tuần.



Trong khi đó Cameron lên tiếng phản đối việc chuyển đổi sang 3D này, nhưng lại ủng hộ rằng quá trình này nên do đạo diễn ban đầu thực hiện. Ông cho biết: “Họ sẽ chuyển đổi Clash of the Titans trong tám tuần. Nhưng tôi cho rằng phải mất 6 tháng đến một năm mới thực hiện tốt được. Chúng tôi dự định mùa xuân năm 2010 sẽ phát hành Titanic phiên bản 3D, đây cũng nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày hạ thuỷ tàu Titanic.”



Trước kia, phim Titanic được sản xuất với công nghệ rất tân tiến. Nhiều cảnh quay trong nhà và ngoài trời đều thực hiện toàn toàn trên máy tính, trong đó có nhiều cảnh quay dưới nước. Chính điều này sẽ mang lại nhiều lựa chọn tốt hơn khi xử lý lại bộ phim theo công nghệ 3D vì kỹ thuật viên và đạo diễn đã quen thuộc với hình ảnh số.



Bạn nghĩ gì về công nghệ chuyển đổi những bộ phim kinh điển sang 3D? Hãy chi sẻ cùng nhau nhé!


Phim 3D là gì


Thuật ngữ 3D (hay 3 Dimensions - 3 chiều) trong trường hợp này để chỉ những hình ảnh trong phim/ảnh/game được hiển thị sao cho nó tạo cảm giác nổi và chiều sâu lên não bộ của người xem. Như vậy việc xem phim sẽ thú vị và có cảm giác gần gũi hơn so với phim 2D truyền thống.


Về nguyên lý:


Phim nổi 3D được tạo ra dựa trên nguyên lý chiếu đồng thời 2 hình ảnh có góc quay chênh lệch không đáng kể lên từng nhãn cầu. Với hình ảnh nhận được, cơ quan não bộ người xem tái tạo lại các đường nét mang chiều sâu và bề rộng tựa như cảnh quan trong thế giới thực.



Trong công nghệ Anaglyph, để xem được phim 3D khán giả phải mang kính 2 màu (đỏ - xanh dương hoặc hồng - xanh lá). Nhờ những mắt kính màu đóng vai trò bộ lọc này, mỗi mắt chỉ nhìn thấy ảnh riêng cho mình. Bộ não sẽ tổng hợp hai ảnh này để có ảnh không gian ba chiều.


(Dichthuatonline.net theo Mashable & Internet)



Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

Facebook để mắt đến Webmail: Project Titan



Theo TechCrunch, Facebook đang thực hiện viết lại hệ thống webmail đầy đủ của mình để thay thế cho nền tảng nhắn tin hiện nay, bao gồm hỗ trợ đầy đủ POP, IMAP và địa chỉ email tùy biến có dạng @facebook.com. Ước danh (codename) cho hệ thống mới này là: Project Titan.





Trong bài viết của mình trên TechCrunch, tác giả Arrington cho rằng Facebook đang xúc tiến triển khai dịch vụ webmail, mở rộng nền tảng nhắn tin (messaging platform) của mình với chức năng tìm kiếm và cho phép người dùng Facebook gửi tin nhắn trực tiếp đến địa chỉ email không thuộc hệ thống của Facebook. Facebook cũng cho biết sẽ cho phép người dùng dễ dàng truy cập hơn và nhận diện trực tuyến đầy đủ hơn với việc thực hiện tính năng cập nhật các siêu liên kết (URL) của người dùng thông qua Facebook Connect. Facebook cho biết hiện nay có hơn 60 triệu người dùng đăng nhập vào 80.000 website của bên thứ ba mỗi tháng thông qua Facebook Connect.



Project Titan sẽ thực hiện dịch vụ webmail này như một tiền đề để tiến xa hơn, cung cấp cho người sử dụng địa chỉ email dạng username@facebook.com và cho phép người sử dụng truy cập trên chính Facebook hoặc truy cập độc lập thông qua POP và IMAP. Facebook hiện có 175 triệu người đăng nhập mỗi ngày; tuy nhiên, việc bổ sung thêm giải pháp webmail thực sự sẽ là một bước tiến mạnh mẽ trong quá trình chuyển đổi từ 'lõi' là truyền thông tập trung sang nền tảng rộng hơn cho kết nối trực tuyến.


Thông tin về Facebook


Website: facebook.com


Trụ sở: Palo Alto, California, Hoa Kỳ


Thành lập: Ngày 01/02/1994


Số vốn: 716 triệu USD


Facebook hiện là mạng xã hội lớn nhất thế giới, với hơn 400 triệu người dùng (số liệu tháng 01/2010).


Dịch thuật Việt theo GIZMODO và TechCrunch



Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

Google Nexus One: có multitouch



Hôm qua trên blog của Nexus One đã chính thức công bố phần mềm cập nhật một số tính năng mới, trong đó có tính năm cảm ứng đa điểm (multitouch). Cụ thể, đó là chức năng pinch-to-zoom (kéo để phóng to hoặc thu nhỏ) cho các ứng dụng là trình duyệt (Browser), thư viện ảnh (Gallary) và bản đồ (Maps).





Lâu nay các blogger vẫn phỏng đoán rằng Google và người sử dụng điện thoại Android không thể thực hiện chức năng đa chạm pinch-to-zoom vì Apple đang nắm bản quyền về tính năng này. Chưa ai chắc chắn liệu bản quyền về tính năng này đang thực sự còn hiệu lực hay không hoặc liệu Apple sẽ kiện ai đó khi áp dụng tính năng này. Các hãng khác, như Palm Pre — đã đi trước và có nguy cơ bị kiện và đến nay họ vẫn chưa bị dính dáng gì đến tranh chấp pháp lý cả!



Có thể chính bản thân Apple cũng không chắc liệu có thể thắng trong vụ kiện nếu có hay không, hay liệu đã có 'thỏa thuận ngầm' về việc này.



Các tính năng khác trong phần mềm cập nhật lần này bao gồm: sửa và cải thiện chất lượng kết nối 3G, cập nhật cho Google maps: các đề xuất tìm kiếm, chế độ màn hình ban đêm và đồng bộ các mục đánh dấu với maps.google.com (truy cập đến nơi cần tìm bằng điện thoại).


Dịch thuật Việt theo Mashable và Nexus One Blog



Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Trình duyệt Chrome tăng trưởng mạnh mẽ



Theo công ty phân tích số liệu có tên là Net Applications, trình duyệt Chrome của Google đang chiếm thị phần lớn hơn từ tay của Internet Explorer và Mozilla Firefox.





Thông tin từ website của Mashable cho hay, trong tháng 01 năm 2010, Chrome đã tăng trưởng 0,57% đến 5,20% trên thị trường trình duyệt. Trong khi đó Firefox giảm 0,20% xuống còn 24,41% và IE giảm 0,51% xuống mức 62,18%. Safari và Opera đều có mức tăng hoặc giảm nhẹ; Safari tăng 0,05% đạt 4,51% và Opera giảm nhẹ 0,02% xuống còn 2,38%.


Tin xấu: Internet Explorer 6


5,20% thị phần trình duyệt toàn cầu là con số ấn tượng đối với một trình duyệt mới như Chrome; tuy nhiên, Internet Explorer vẫn chiếm ưu thế vượt trội. IE8 chiếm đến 22,31% thị phần và IE7 chiếm 14,58%, nhưng có một điều buôn là chính IE6 vẫn là trình duyệt phổ biến thứ hai (sau IE8) chiếm 20,7%.



Nhiều người cho rằng cần sớm khai tử IE6. Lâu nay IE6 không có cải tiến và có nhiều lỗi bảo mật, không an toàn cho người dùng, và nếu so sánh với các trình duyệt hiện đại, IE6 chính gây nhiều phiền toán khi sử dụng.



Hiện Google và nhiều công ty khác đang có kế hoạch hạn chế dần các tính năng hỗ trợ IE6 với hy vọng người dùng sẽ cập nhật phiên bản IE mới hơn hoặc chuyển sang sử dụng một trong số các đối thủ cạnh tranh như Firefox, Chrome hay Safari.



Tin tốt lành đó dường như đang có hiệu quả, mặc dù rất chậm. Mặc dù trong mấy tháng gần đây IE6 đã giảm dần tỷ lệ sử dụng, nhưng tốc độ đó dường như chưa đủ.


Dịch thuật Việt dịch từ Mashable



Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2010

Facebook trở thành 'cỗ máy' kiếm tiền như thế nào



Năm 2009 là năm đánh dấu thời kỳ bùng nổ và phát triển các mạng xã hội (social network) và các nền tảng này đã đạt được tốc độ tăng trưởng theo cấp số nhân. Hiện nay, có hơn 2/3 số người dùng Internet trên thế giới ghé thăm các trang mạng xã hội và mỗi ngày có hàng tỷ lượt truy cập vào các trang này.





Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng như vậy, nhưng làm thế nào để có được lợi nhuận vẫn là bài toán khó đối với các nền tảng mạng xã hội này. Như vậy, việc xác định các mô hình tạo lợi nhuận mới là rất quan trọng để bắt đầu chu kỳ phát triển mới của hiện tượng mạng xã hội trong năm 2010.


Nếu mọi người có thể, Facebook cũng có thể!


Facebook, được đánh giá là mạng xã hội lớn nhất thế giới, hiện đã vượt xa các nền tảng mạng khác, với hơn 350 triệu người dùng trên toàn cầu. Nếu chúng ta đánh giá xem mạng xã hội nào sẽ phát triển công thức thu lợi nhuận thành công trong năm 2010, đó chính là Facebook. CEO của Facebook là Mark Zuckerberg đã công khai thể hiện mong muốn “các mạng xã hội sẽ trở nên quan trọng như các trình duyệt và hiện điều hành,” và hy vọng đạt mục tiêu 1 tỷ người dùng trên toàn cầu trong những năm tới.



Trong khoảng thời gian chưa đầy 5 năm, Facebook đã phát triển vượt bậc, chiếm thị phần lớn và là nền tảng độc đáo. Người dùng Facebook truy cập ít nhất 1 lần mỗi ngày và dành thời gian khoảng 55 phút trên website này.



Trong khi chờ đợi biến những số liệu thống kê trên thành tiền là việc không dễ dàng, nhất là trong một ngành mà người dùng có thói quen sử dụng miễn phí - Facebook đã tiên phong trong quá trình xây dựng mạng xã hội như chúng ta đang chứng kiến.


Bước tiếp theo - thu lợi nhuận từ quảng cáo


Lâu nay, quảng cáo luôn là cách đơn giản nhất để thu lợi nhuận. Theo báo cáo của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers, trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng lợi nhuận thu được từ quảng cáo Internet trên toàn cầu là 10,9 tỷ USD, trong đó chỉ riêng Facebook ước đạt 435 triệu USD. Tuy nhiên, đối với một website với gần nửa tỷ người dùng, trong đó 1/4 dành thời gian trên mạng, thì những con số trên là tiềm năng lớn.



Trước tiên, Facebook cần phải nhận thức được mình đang kinh doanh bán quảng cáo. Khi quản lý mạng lưới quảng cáo tốt hơn, mở rộng các lựa chọn marketing thông minh và phát triển các quảng cáo mạng xã hội có thể sinh lợi thông qua thể hiện sức mạnh thương hiệu của bạn bè và các mối quan hệ, thì lúc đó Facebook mới có thể có được phần lợi trong lợi nhuận quảng cáo trực tuyến. Cuối cùng là cần tăng cường nhận thức và hiểu biết về hiệu quả quảng cáo trên Facebook trong giới lãnh đạo công ty.



Ví dụ, hiện nay mỗi lãnh đạo công ty ở Mỹ đều hiểu được giá trị khi mua các quảng cáo của Google - và điều đó không phải ngẫu nhiên mà có. Google đã hiểu được rằng những gì giúp công ty này chiếm thế thượng phong trong tìm kiếm trực tuyến sẽ không tồn tại mãi là công ty toàn cầu với trị giá gần 200 tỷ USD. Chiến lược marketing và truyền thông mạnh mẽ của Google đã hoạt động hiệu quả để đảm bảo rằng mỗi khách hàng mua quảng cáo, chiến dịch chính trị, lãnh đạo marketing và nhân viên quan hệ công chúng (public relations flack) đều nhận biết được giá trị của dịch vụ và ROI (tỷ lệ lợi tức đầu tư) mà quảng cáo Google đem lại.


Thương mại điện tử - giữ chân khách hàng


Việc ra đời Facebook với tư cách là một trang thương mại điện tử thực sự tạo ra tiềm năng kinh doanh rất lớn và có thể thay đổi vĩnh viễn cách chúng ta mua hàng truyền thống. Theo số liệu của Bộ thương mại Mỹ, các giao dịch mua bán trực tuyến (online purchase) trong ba quý của năm 2009 đạt tổng 98,3 tỷ USD. Đa số các công ty bán hàng trực tuyến đều liên quan đến hoạt động trên Facebook, tạo các giao dịch thương mại trực tiếp hoàn toàn trên Facebook sẽ thay đổi mạnh mẽ việc các công ty quảng cáo thế nào và khách hàng mua hàng trực tuyến ra sao.


Với một số điều chỉnh, các công ty có thể cung cấp kịp thời món quà sinh nhật cho bạn bè, bố trí chuyến đi du lịch, bản nhạc mới nhất của nghệ sĩ yêu thích....



Facebook có thể có doanh thu khi tính phí một phần trăm giao dịch mua bán, ấn định tỷ lệ phí nhất định cho gian hàng hoặc nhờ các hợp đồng quảng cáo tăng lên.


Quyền lựa chọn đăng ký tính phí


Trong cuộc sống, không có điều gì tốt mà hoàn toàn miễn phí. Đó chính là sự thật và là thời điểm chín muồn mà Facebook (và người dùng) cần phải đối diện trong năm 2010. Bằng việc tăng cường kinh tế quy mô (economies of scale), Facebook có thể tăng lợi nhuận mà không làm giảm lượng người dùng. Bạn sẽ trả 01 USD mỗi tháng để chia sẻ những bức ảnh có độ phân giải cao hoặc tải lên những đoạn video chất lượng tốt hơn và dài hơn? Số liệu tháng 12/2009 cho thấy có 2,5 tỷ bức ảnh được tải lên Facebook. Và rõ ràng là ngay cả khi chỉ có 1/4 người dùng đang hoạt động lựa chọn chức năng tính phí, thì điều này sẽ tạo ra thu nhập khoảng 01 tỷ USD cho Facebook mỗi năm.



Cải thiện chất lượng quảng cáo, phát triển nền tảng thương mại điện tử và bổ sung thêm các dịch vụ có tính phí không chỉ tạo cho giao dịch có lợi nhuận cao, mà còn tạo ra các dòng thu nhập như Google đã làm trước kia.


Thông tin về Facebook:


Facebook là một website mạng xã hội truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành và sở hữu tư nhân. Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường hợp và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác. Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng. Tên của website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của cộng đồng campus mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh viên mới vào trường, phòng ban, và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại khuôn viên trường.



Mark Zuckerberg thành lập Facebook cùng với bạn bè là sinh viên khoa khoa học máy tính và bạn cùng phòng Dustin Moskovitz và Chris Hughes khi ông còn là sinh viên tại Đại học Harvard. Việc đăng ký thành viên website ban đầu chỉ giới hạn cho những sinh viên Harvard, nhưng đã được mở rộng sang các trường cao đẳng khác tại khu vực Boston, Ivy League, và Đại học Stanford. Sau đó nó được mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, rồi đến học sinh phổ thông và cuối cùng là bất cứ ai trên 13 tuổi. Website hiện có hơn 350 triệu thành viên tích cực trên khắp thế giới. Facebook vừa mới qua mặt Myspace về số lượng người truy cập, khiến cho Facebook trở thành mạng xã hội phổ biến nhất, tiếp theo sau là MySpace và Twitter


Dịch thuật Việt lược dịch từ Mashable



Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

Lại nhớ về Peter Drucker



Để biết về Peter cần phải lắng nghe. Ông là bậc thầy về những văn bản tao nhã và súc tích. Tôi đã tìm hiểu về Peter Drucker suốt 4 năm qua thông qua email từ những bạn, đồng nghiệp cũ, khách hàng và gia đình.





Peter không sử dụng e-mail. Ông thích được trò chuyện trong khi nhâm nhi một ly rượu, ngồi đánh máy hay gửi fax thông qua chiếc máy đánh chữ bằng tay đã gắn bó lâu ngày với ông. Peter là bậc thầy về những văn bản tao nhã và súc tích, dù cho chủ đề có phức tạp đến đâu cũng không là vấn đề với ông.


Vị lãnh đạo uy tín Warren Bennis đã đề nghị tôi gặp gỡ với Peter. Năm 1991, lần đầu tiên tôi gặp Peter khi ông sắp bước sang tuổi 80, ông đang ngồi dựa vào cây gậy ba-toong, trên người đeo máy trợ tim và trợ thính. Peter rất có năng khiếu nói chuyện, dù cho là một hay hàng nghìn người nghe đều bị lôi cuốn bởi các câu chuyện của ông và dường như bất kỳ chủ đề nào cũng là thế mạnh của Peter.


Các câu chuyện thông qua lời kể của Peter trở nên phong phú và có hồn hơn, đồng thời ông còn duy trì danh tiếng của mình qua các bản dịch liên quan đến vấn đề kinh tế hay công nghệ toàn cầu. Những vấn đề phức tạp này được ông giải thích hết sức đơn giản, rõ ràng, và sâu sắc.



Nhà khoa học quản trị hàng đầu thế giới Peter Drucker.


Giống như nhiều người hâm mộ khác, tôi cũng ngay lập tức bị thu hút bởi bản chất tốt đẹp, kiến thức rộng lớn và vai trò vô song như một chuyên gia trong lĩnh vực quản lý và tổ chức của Peter. Tuy nhiên, Peter lại không mấy hứng thú với sự nổi tiếng của mình, điều mà thường đi kèm với việc tự cho mình là nhất. Theo quan điểm của ông, CEO và nhà quản lý chỉ trở nên vĩ đại khi họ thật sự khiêm nhường và cống hiến toàn bộ sức lực cho công việc, chứ không phải cho sự nổi tiếng. Vì thế, ông cũng đánh giá thấp đối với các CEO những người "chú trọng vào đề cao bản thân và danh tiếng".



Giản dị là yếu tố cốt lõi trong con người Peter. Peter cùng vợ của ông, Doris, sống hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ gồm hai phòng ngủ tại một khu phố trung lưu cách trường Claremont năm phút đi bộ. Cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời, Peter vẫn dạy học ở trường Quản lý Claremont, ngôi trường sau này được mang tên ông. Ông cùng Doris đã đem toàn bộ số tài sản khổng lồ tặng cho nhiều địa phương, trong khi chỉ giữ lại một căn nhà nhỏ bằng gỗ ở Estes Park, Colorado, nơi mà hai vợ chồng ông thường đến nghỉ vào mỗi mùa hè cho đến khi họ không đủ sức để đi.


Peter được biết đến như người sáng tạo của các nghiên cứu về quản lý tổ chức hiện đại, chúng được nảy mầm từ cuộc đời miệt mài học hỏi và nghiên cứu của ông - ông say mê với thực vật học, nghệ thuật Nhật bản và các thực tiễn của chủ nghĩa tình nguyện - Peter còn có một trí nhớ đáng ngạc nhiên về lịch sử của tất cả các nền văn minh, văn hoá, khoa học, kinh tế và những chu kỳ thay đổi trong bản chất con người. Khi ông giảng bài, mỗi khái niệm là một phần không thể tách dời của một bài giảng đã được chuẩn bị từ trước. Các đồng nghiệp và tôi gọi đó là những "viên ngọc" mà Peter đang xâu thành chuỗi qua các bài thuyết trình của mình khiến người nghe thật sự bị cuốn hút.


Trong hơn 10 năm đại diện cho Peter với tư cách là người quản lý bài giảng của ông, tôi đã tham gia vào soạn hàng trăm bài thuyết trình của Peter trên khắp thế giới, điều này khiến ông phải dành rất nhiều thời gian kiệt sức trên máy bay, sân bay và ở khách sạn. Bất chấp sự suy giảm về sức khoẻ do bệnh ung thư, bệnh tim và các cơn đột quỵ, Peter không bao giờ để công việc của mình bị ảnh hưởng. Ngay từ khi mới bắt đầu làm cùng Peter, tôi vẫn thường đề nghị ông từ chối những lời mời thuyết trình khi thấy chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của ông, đơn cử như khi các nhà xuất bản tại Nhật Bản yêu cầu ông thuyết trình tại năm thành phố ở Nhật Bản chỉ trong một tuần. Tôi nhận thấy việc này thật vất vả ngay cả cho những nhà thuyết trình trẻ tuổi khoẻ mạnh huống chi Peter đã ở tuổi 83.


Thế nhưng Peter không đồng ý. Cảm nhận được sự lo lắng của tôi, ông đã đề nghị tôi gặp ông tại Claremont. Cũng giống như những lần ghé thăm trước đây, buổi nói chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng một ly rượu vang. Peter kể cho tôi nghe về mẹ của ông, bà có một tiệm đồ cổ ở Vietna và bà đã giữ cho cửa hàng hoạt động đến tận khi bà 90 tuổi. Vào một buổi sáng ở cửa tiệm, bà ngối xuống, nhắm đôi mắt lại và ra đi. Peter nói: "Đó là điều mà tôi muốn làm theo. Tôi muốn được làm việc đến phút cuối của cuộc đời mình".


Sau khi rời bỏ công việc giảng dạy năm 2001, tôi đã có cuộc gặp gỡ cuối cùng với Peter. Ông vừa từ bệnh viện trở về nhà sau một cơn đột quỵ nghiêm trọng, mặc dù vậy Peter vẫn giữ được sự minh mẫn trong đôi mắt, vẫn nụ cười chiến thắng trên môi và muốn được nghe những cập nhật về cuộc sống của tôi.


Chúng tôi thảo luận về bài báo tiếp theo của ông trên Harvard Business Review. Bài báo thể hiện rõ phong cách của Peter: không bao giờ biết mệt mỏi và ngừng nghỉ. Ông cho biết ông còn một vài cuốn sách và một vài bài viết vẫn chưa xuất bản. Peter tự tin về tầm quan trọng của các bài viết và bài giảng mà ông đưa ra, xong ông lại rất khiêm tốn khi thừa nhận và thường cảm thấy không thoải mái với các vô số các danh hiệu mà ông đã nhận được. Khi được hỏi: cuốn sách nào ông tâm đắc nhất trong 33 cuốn đã xuất bản? Peter luôn luôn trả lời: "Cuốn tiếp theo".



Ngày hôm đó, cũng như mọi khi, Peter không chối bỏ sự suy yếu trong tình trạng sức khoẻ và cũng khách quan về những giới hạn của ông, nhưng cảm thấy bất ngờ và hạnh phúc khi vẫn được sống và làm việc. Tôi nhớ Peter và thường suy ngẫm về tất cả những gì ông đã dạy tôi, không chỉ về các kinh nghiệm tổ chức và lịch sử văn minh nhân loại, mà còn về cách làm thế nào để sống một cuộc đời ý nghĩa với lòng nhiệt huyết khám phám và học hỏi.



Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

LinkedIn thay đổi giao diện bảng tìm kiếm



LinkedIn sẽ sớm đưa vào sử dụng giao diện duyệt liên hệ mới tiện lợi và dễ sử dụng khi bạn muốn tìm kiếm dòng thông tin. Theo Mashable thì phiên bản cập nhật này bổ sung thêm một bảng tìm kiếm cho phép bạn duyệt các mối liên hệ (contacts) theo công ty, ngành hoặc địa điểm.





Bạn cũng có thể tìm kiếm bạn bè, nhà tuyển dụng...theo các thẻ (tag) mà bạn định nghĩa cũng như truy vấn các hoạt động gần đây (recent activity). Giao diện có một trường tìm kiếm, ở đó bạn có thể giới hạn những thứ cần tìm bằng cách nhập tên hay các thông tin có thể xuất hiện trong tiểu sử liên hệ(contact’s profile).



Khi bạn duyệt đến một người cụ thể và lúc đó có một tiểu sử mini xuất hiện ở bảng ngoài cùng bên phải, lúc này bạn sẽ tìm thấy thông tin liên hệ, ảnh, vị trí hiện tại và số lượng các mối liên hệ (connections). Bạn cũng có thể bổ sung hoặc bỏ đi các thẻ cho liên hệ đó khi xem tiểu sử mini.



Gần đây, LinkedIn cũng tiến hành thiết kế lại các phần chính cho cả website và ứng dụng trên iPhone. Kết hợp các thay đổi này, cùng với bảng tìm kiếm mới và tính năng tìm kiếm theo các bộ lọc (dựa trên 8 mặt chính: công ty hiện nay, công ty trước kia, địa điểm, mối quan hệ, địa điểm, ngành, trường học và ngôn ngữ), bạn sẽ có các công cụ mạnh mẽ để tìm kiếm những gì bạn cần và những người bạn cần trong số các mối liên hệ nghề nghiệp của mình.



Với tư cách là người dùng, chúng ta luôn trông đợi các tính năng mới ở các website cùng loại, nhất là Facebook vốn đang gặp phải những lỗi lớn ở cả giao diện tìm kiếm và kết quả. Facebook nên học hỏi điều này từ LinkedIn.



Dưới đây là giao diện bảng tìm kiếm mới của LinkedIn.



(Nguồn: Mashable)

Vài nét về LinkedIn


LinkedIn là một mạng thương mại điện tử, chủ yếu được sử dụng như một mạng chuyên nghiệp. Đến tháng 11 năm 2007, nó đã có đến hơn 16 triệu thành viên, nối kết 150 ngành công nghiệp và hơn 400 lĩnh vực kinh tế. Giám đốc Điều hành của LinkedIn là Dan Nye.
Giám đốc Điều hành trước đây, người đã thành lập LinkedIn là Reid Hoffman, là cựu Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Paypal. LinkedIn có trụ sở tại Mountain View thuộc California, được tài trợ bởi Greylock, Sequoia Capital, các cổ đông Bessemer Venture và các nguồn tài trợ Châu Âu. Từ tháng 3 năm 2006, LinkedIn đã bắt đầu thu được lợi nhuận.


Dịch thuật Việt theo Mashable và Tuần Việt Nam