Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2009

"Thập kỷ của Steve Jobs"



Tỷ phú Steve Jobs không còn trẻ, nhưng có quá nhiều người trẻ "say mê" ông cũng như những sản phẩm mà "quả táo cắn dở" của ông tung ra trên thế giới. Chẳng ngoa khi người ta đã xưng tụng về một "thời đại" của doanh nhân hàng đầu này.





CEO của Thập kỷ



Những thành tích xuất sắc luôn gắn liền với Steve Jobs kể từ khi ông còn là một chàng trai trẻ. Giờ đây ông đã 54 tuổi, chỉ danh mục những thành tích ông đạt được cũng đủ để giải thích tại sao ông vừa được tạp chí Fortune bình chọn là CEO của Thập kỷ (mặc dù ông vẫn tiếp tục tiến bước trên con đường của mình).


>> Xem thêm: Những vụ đầu tư nổi tiếng nhất của Buffett


Trong vòng 10 năm qua, ông đã tái thiết lập trật tự căn bản của ba thị trường: âm nhạc, điện ảnh, điện thoại di động, và tầm ảnh hưởng tới lĩnh vực gốc của ông- ngành máy tính, vẫn tiếp tục lớn mạnh.



Ở tuổi 21, năm 1971, Steve Jobs đồng sáng lập ra Apple với Steve Wozniak tại gara ô tô của gia đình ở Los Altos, California. Cha Jobs đã di rời thiết bị trùng tu xe hơi của ông và mua về nhà một chiếc bàn làm việc bằng gỗ của thợ mộc để làm cơ sở sản xuất đầu tiên cho Apple. Jobs quay trở lại chiếc gara trống năm 1996 để chụp ảnh cho Fortune



Với Steve Jobs, có thể người tiêu dùng không bao giờ để mắt tới bản báo cáo thường niên hoặc thậm chí là tờ tạp chí kinh doanh nhưng lại có thể nói rất nhiều về thị hiếu thiết kết của ông, các cửa hàng bán lẻ tao nhã của Apple và cách thức quảng cáo "hút hồn" của "Quả táo".



Cũng chính vì thế mà ông nổi tiếng như một "ông bầu", một tài năng bán hàng bẩm sinh, một nhà ảo thuật, một người cầu toàn chuyên quyền. Tất nhiên những mô tả đó hoàn toàn chính xác và những mô tả này đóng góp vào câu chuyện huyền thoại của ông.














Jobs cùng Steve Wozniak năm 1979, bức hình chụp cho tạp chí Life với chiếc Apple II, sản phẩm đột phá đầu tiên của Apple
Tất cả công việc ông làm với người viết bài quảng cáo, các nhà thiết kế và các nhà soạn nhạc đều không mắc sai lầm bởi Jobs luôn toàn tâm toàn ý với công việc kinh doanh. Ông có thể không quan tâm tới việc nghiên cứu khách hàng, nhưng ông sẵn sàng làm việc một cách "điên rồ" để tạo ra sản phẩm mà khách hàng sẽ mua.


Ông là một người nhìn xa trông rộng, nhưng ông cũng biết cách đặt nền móng đề biến ước mơ thành hiện thực, giám sát chặt chẽ hoạt động của Apple và các nguyên tắc hoạt động của thị trường.



Larry Ellison - CEO của Orcacle - một người bạn của ông, cho rằng: Ông không lấy đồng tiền làm động cơ hoạt động kinh doanh. Thay vào đó, động cơ giúp ông xây dựng lên Apple - mối tình đầu của ông - chính là nhuệ khí có tính bản năng.



Các kết quả tài chính chẳng có gì đáng kinh ngạc cả - đối với cả Apple và đối với Jobs. Năm 2000 trị giá của Apple đạt khoảng 5 tỉ đô la, chỉ ngay trước khi Jobs tung ra chiến lược "phong cách sống kỹ thuật số". Ngày nay, với trị giá khoảng 170 triệu đô la, Apple được định giá lớn hơn Google một chút.



"Thập kỷ" của Steve thực sự đã bắt đầu từ năm 1997, khi ông quay trở lại Apple sau khi bị trục xuất khỏi công ty 12 năm trước đó. Đó là một năm của mức đầu tư khiêm tốn từ Microsoft, năm giảm bớt dòng sản phẩm của Apple xuống mức tối thiểu chỉ còn bốn dòng sản phẩm.



Jobs đã biến đổi Apple như thế nào?



Việc đầu tiên là Jobs đã hoàn thành quá trình tuyển dụng một đội ngũ quản lý mới, gồm một số nhà quản lý từ các công ty trước của ông. Những nhà quản lý hàng đầu này hình thành nên hạt nhân bộ tham mưu của Jobs trong gần 10 năm.



Ngay sau khi trở lại, sản phẩm đầu tiên ông tung ra là Macintosh, dòng máy tính iMac thuộc dạng "tất cả - trong - một" đã mang đến đột phá cho Apple, giúp doanh thu của hãng ổn định trở lại.













First Macjobs  và đội của ông – cùng ngồi lại quanh bàn thảo luận của Apple tại trụ sở chính của công ty ở Cupertino – làm việc về chiếc máy tính Macintosh qua bữa trưa hồi năm 1982. Sản phẩm có tính bước ngoặt này đã được tung ra thị trường hai năm sau đó
Thành công của dòng máy tính đắt tiền iMac, cùng với việc cắt giảm chi phí quyết liệt, đã giúp Jobs xây dựng được một bước đệm tiền mặt vững chắc. Qua việc hồi phục bảng cân đối kế toán của Apple, ông đã chuẩn bị để công ty sẵn sàng đón nhận những khoản đầu tư lớn, một động thái kinh doanh khôn ngoan hiếm có. Jobs đã tạo dựng nền tảng vững chắc cho bước nhảy của Apple khi mọi thứ dường như đang trong giai đoạn đen tối nhất.

Năm 2000, Apple đã không đạt được các mục tiêu tài chính của hãng trong bản thông báo doanh thu tháng 9, khiến cho giá cổ phiếu của hãng sụt giảm nghiêm trọng trong những tháng tiếp theo, chỉ còn tương đương với 7 đô la theo giá hiện thời.



Tuy vậy, vào thời điểm đó, Jobs đã lên kế hoạch sắp xếp những nhân tố căn bản để trẻ hóa Apple. Trong suốt giai đoạn năm 2001, khi thị trường toàn cầu tụt dốc và thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, Apple đã tung ra thị trường phần mềm âm nhạc iTunes (trong tháng 1), hệ điều hành Mac OS X (tháng 3), những cửa hàng bán lẻ Apple đầu tiên (tháng 5), và chiếc iPod đầu tiên (tháng 11) và mô hình 5GB mà Apple quảng cáo là có sức chứa tới 1,000 bài hát.



Thị trường đã không kịp thời nắm bắt tầm quan trọng của những sự kiện trên. iTunes chỉ là phần mềm chơi nhạc nhúng vào Macs và thiếu cửa hàng trực tuyến bán nhạc. Hệ điều hành mới, mặc dù rất ấn tượng, chỉ đóng vai trò là sản phẩm ngách.














Nổi tiếng vì không mua đồ đạc trong nhà. Jobs chụp ảnh tại nhà của ông ở Los Gatos, California

cho tạp
chí Time năm 1982
Do giá cổ phiếu của công ty sụt giảm nghiêm trọng, các tin đồn về việc Apple bị mua lại đã xuất hiện ở khắp nơi. Điều chưa bao giờ được thông báo một cách chính thức đó là việc Jobs đã nhờ sự trợ giúp của tập đoàn mua lại mới thành lập là Silver Lake Partners. Thương vụ mua lại của Apple có lẽ sẽ là thương vụ của thập kỷ, nhưng cuối cùng Jobs đã dập tắt những tin đồn này.

Đó thực sự là đề xuất nghiêm túc lần thứ hai về việc mua Apple. Trong năm 1997, một người bạn của Jobs là Ellison, sau này là một thành viên của Hội đồng quản trị Apple, đã lên kế hoạch tài chính mua lại công ty với giả định rằng Jobs sẽ tiếp tục điều hành công ty.



Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Ellison cho rằng Jobs đã không thích ý tưởng trở thành "người nói sau" nếu có vẻ như ông trở lại chỉ đơn giản để kiếm tiền.



Ellison cho biết: "Ông ấy đã giải thích cho tôi rằng với nền tảng đạo đức vững chắc, ông nghĩ rằng ông có thể đưa ra những quyết định dễ dàng hơn và trang nhã hơn". Với những ai quan tâm tới công ty sau sự trở lại của Jobs thì vị CEO chính là người đã chỉ thị đường đi nước bước của Apple.














Jobs chụp ảnh với chiếc Macintosh, sản phẩm được giới thiệu hồi tháng Một năm 1984 trong

buổi họp thườ
ng niên của Apple
Đầu năm 2002, trong một cuộc phỏng vấn với Time, Jobs cho biết: "Tôi thà cạnh tranh với Sony còn hơn cạnh tranh với Microsoft trong danh mục sản phẩm khác. Chúng tôi chỉ là công ty sử hữu phần mềm, phần cứng,và hệ điều hành. Chúng tôi có thể hoàn toàn chịu trách nhiệm về trải nghiệm của người sử dụng. Chúng tôi có thể làm những thứ mà người khác không thể làm được".

Jobs tin rằng người sử dụng sẽ quay trở lại với Apple, nhưng chỉ khi ông có thể nói trực tiếp với họ - và không chỉ là với những người sử dụng Macintosh trung thành, một câu lạc bộ bao gồm phần lớn là những nghệ sĩ và sinh viên.



Chiến lược xây dựng các cửa hàng bản lẻ thuộc quyền sở hữu của công ty, là một phần không thể thiếu của Apple ngày nay, đã bị chế nhạo tại thời điểm đó khi công ty đang lâm vào tình trạng khan hiếm nguồn tiền mặt.



Bill Campbell - cựu quản lý của Apple, người sau này trở thành chủ tịch hội đồng quản trị của Intuit và là một thành viên của hội đồng quản trị Apple - cho rằng: "Ông đã thực hiện chiến lược này cùng một hội đồng quản trị đầy mối quan ngại. Ông biết rằng đó chính là thứ khách hàng mong muốn".



Điều đáng chú ý nhất khi nhìn lại đó là số lượng sản phẩm bán ở các cửa hàng Apple gốc ít như thế nào. Jobs biết làm cách lấp đầy cửa hàng bằng rất nhiều các dòng sản phẩm khác.



Jobs cho rằng ông cần phải biết mọi thứ về Apple. Ông tham gia vào từng chi tiết mà nhiều khi bạn không nghĩ rằng một CEO cần phải biết chi tiết đến vậy. Phương châm hoạt động của Jobs là "nghĩ khác" trước khi bất kỳ sản phẩm mới nào được giới thiệu ra ngoài thị trường.



Khả năng kết hợp hiếm hoi giữa quản lý vi mô với tầm nhìn xa trông rộng chính là sự khác biệt của Jobs với các nhà lãnh đạo khác. Ngay khi mới quay trở lại Apple, ông đã nhận ra rằng thiết kếbắt mắt, tinh tế chính là đặc điểm tạo sự khác biệt của Apple trong ngành công nghiệp máy tính vốn do Dell, Microsoft và Intel nắm giữ.














Jobs và cựu CEO của Apple John Sculley cùng ngồi ở Central Park năm 1984 với chiếc Macintosh đóng trong hộp. Một năm sau, Jobs bị đuổi khỏi Apple.

Sau đó ông mở công ty máy tính Next và gắn bó với công này trong suốt 12 năm cho tới khi ông quay trở lại Apple vào năm 1997. Sculley giữ cương vị CEO của Apple cho tới năm 1993
CEO của công ty tư vấn thiết kế sản phẩm Ideo, Tim Brown đã viết trong cuốn sách mới của ông "Change by Design" (tạm dịch là Thay đổi bằng thiết kế) rằng: "Tôi không thể đếm được có bao nhiêu khách hàng bước chân vào và nói "cho tôi chiếc iPod tiếp theo".

Jobs cũng có sở trường nắm bắt cơ hội vào đúng thời điểm. Ngành công nghiệp âm nhạc đã rất nhiều lần không thành công trong việc phát triển thị trường âm nhạc kỹ thuật số trước khi Apple tung ra sản phẩm iTunes - chính là dòng sản phẩm được chuẩn bị để trở thành cửa hàng bán âm nhạc.



Bản thân Jobs cũng rất cẩn trọng tránh né việc bàn tán quá lâu về một sản phẩm chưa có thực, ông chỉ thích nói khi đã có sản phẩm trong tay, và sẽ sẵn sàng xúc tiến quảng cáo.



Ông không tiết lộ về ca phẫu thuật ung thư năm 2004 của mình cho tới khi nó diễn ra, và chỉ được thông báo một cách chiến lược qua thư điện tử của một nhân viên.



Tương tự như vậy, ông nói với thế giới về thời gian nghỉ phép gần đây của ông thông qua công văn của một nhân viên khác mà không thêm vào bất kỳ một bình luận nào từ phía ông hay từ bất kỳ ai ở Apple.













Jobs với các nhân viên của Next trên xe buýt sau chuyến thăm nhà máy chưa đi vào hoạt động của công ty ở Fremont, California năm 1987. Chiếc máy tính đầu tiên của Next được tung ra thị trường một năm sau đó
Không một ai trong "đế chế" của Jobs nói mà không có sự cho phép của nhóm quan hệ công chúng của công ty, nhóm này luôn báo cáo công việc trực tiếp lên Jobs. Apple đã từ chối để Jobs tham gia một cuộc phỏng vấn về vấn đề này.

Lúc đầu Jobs cũng giữ im lặng về vụ xì căng đan ghi lùi ngày quyền mua cổ phần có liên quan tới cả cựu giám đốc tài chính và luật sư của công ty. Jobs đã xin lỗi về vụ xì căng đan đình đám này và gọi sự việc này là "hoàn toàn không đúng với tính cách của Apple".



Jobs quản lý tiền mặt, thông điệp, các thương vụ, thiết kế và hơn thế nữa. Xem xét một cách công bằng thì kẻ thích sống lập dị trong ngành công nghiệp máy tính này đã xây dựng một ngành kinh doanh đầy ấn tượng và công ty của ông là có một không hai. Sự việc ông bị ốm trong thời gian gần đây chính là lời nhắc nhở rằng Steve Jobs là bất diệt. Khi ông đi xa, công ty của ông sẽ thịnh vượng được bao lâu nữa?



Tương lai của Apple



Tháng chín năm nay, khi công chúng vui mừng đón nhận sự trở lại của Steve Jobs, ông đã gửi lời cảm ơn chính xác tới một nhà quản lý của Apple: Tim Cook, giám đốc điều hành của Apple.













Năm 1991, Fortune mời Jobs và Bill Gates cùng tham gia thảo luận về tương lai của máy tính cá nhân. Jobs lúc đó đang lãnh đạo Next, và Gates đã là một tỉ phú. Họ gặp nhau tại ngôi nhà ở  Palo Alto của Jobs vào một buổi tối chủ nhật
Trong một sự kiện giới thiệu dòng sản phẩm mới của iPods, Jobs trước hết đã thông báo với toàn thể nhà báo, các nhà phân tích và các nhà phát triển Apple rằng hiện tại ông đang sở hữu gan của một "người hiến tặng gan ngoài hai mươi tuổi đã chết trong một vụ tai nạn xe hơi.".

Sau đó ông cảm ơn Cook và toàn thể đội quản lý vì đã "khéo léo" điều hành Apple khi ông vắng mặt. Đáp trả lại, Cook đã hoan nghênh nhiệt liệt Jobs.



Với sự trở lại của Jobs, cuộc đàm luận bị trì hoãn ở việc liệu Cook hay bất kỳ ai đang chuẩn bị để thế chân Jobs. Ở Apple, hệ thống cấp bậc do Steve quyết định. Có rất nhiều giá trị trong "những gì Steve nói".



Có những dấu hiệu cho thấy Jobs đã làm rất tốt công việc đào tạo để có một đội ngũ quản lý công ty đủ mạnh khi không có ông. Apple được đào tạo kỹ càng để có lối suy nghĩ như Steve. Đó là lý do tại sao sáu tháng qua công ty hoạt động rất tốt.













Steve Jobs ngồi trên chiếc ghế này hàng ngày ở nhà kể từ khi ông hồi phục sau giai đoạn điều trị ung thư tuyến tụy năm 2004. Ông đã phẫu thuật trong tháng bảy năm đó để cắt bỏ khối u
Trong thực tế, Jobs không chỉ truyền cảm hứng làm việc cho các nhân viên trong Apple mà còn cả các công ty khác nữa. Nhà tư bản mạo hiểm Marc Andreesen, đồng sáng lập ra Netscape, cho biết ông thường nhớ tới Jobs về những lời khuyên của ông dành cho các doanh nhân. Ông thường tự hỏi mình: trở ngại khi tung ra sản phẩm đầu tiên là gì? Steve Jobs sẽ làm gì?

Trong thập kỷ tiếp theo, Jobs có thể sẽ tự hỏi bản thân ông một biến thái của câu hỏi này: Sau khi tạo ra hơn 150 tỉ đô la tài sản cổ phần, biến đổi ngành công nghiệp điện ảnh, điện thoại, âm nhạc và máy tính, Steve Jobs sẽ làm gì tiếp theo?



Với sở thích giữ bí mật và tạo sự ngạc nhiên cho mọi người và một tài năng xuất chúng như Steve, có lẽ chúng ta nên đợi ông nói cho chúng ta biết khi ông sẵn sàng.















Các "ngôi sao" nói gì về Steve Jobs



1. Andy Grove - Cựu chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của Intel:

Khi nói về Steve, bạn cần phải phân biệt giữa Jobs 1 - chàng trai trẻ sáng lập ra Apple, và Jobs 2 – người “sáng lập” ra thời đại của mình



2. Andrea Jung - Chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của Avon:



Tất cả chúng ta đều cần phải tập trung vào khách hàng và người tiêu dùng cuối cùng như cách mà Steve đã làm – đó là niềm đam mê điên cuồng để có được chiếc điện thoại tốt nhất, chiếc MP3 tốt nhất, máy tính cá nhân tốt nhất, kinh nghiệm bán lẻ tốt nhất.



3. Larry Ellison - Người đồng sáng lập và là CEO của Oracle:



Tôi nhớ khi Steve còn là hàng xóm của tôi ở Woodside, California, và ông không có đồ đạc gì. Điều đó khiến tôi hiểu rằng không có đồ đạc gì là điều đủ tốt với Steve trên thế giới này. Ông thà không có gì nếu ông không thể có sự hoàn hảo.



4. Marc Andreessen - General partner, Andreessen Horowitz:



Khi Steve quay trở lại vào năm 1997, công ty đang trên bờ vực phá sản. Ông đã đi từ bờ vực phá sản để xây dựng lên những dòng sản phầm nổi tiếng ngày nay.



5. Bob Iger



Một điều đáng chú ý về Steve đó là cách thức ông đặt kỳ vọng vào mọi người. Tôi đã làm việc cho Roone Arlegde trong 10 năm. Ông đòi hỏi sự hoàn hảo, không bao giờ chấp nhận những việc tầm thường, xoàng xĩnh. Steve cũng vậy. Tôi thấy điều này trong cách ông quản lý nhân viên của ông. Ông đặt kỳ vọng cho chất lượng, thách thức cho hiện trạng – và không bao giờ chấp nhận câu trả lời không.



6. Ralph de la Vega - Chủ tịch kiêm CEO của AT&T:




Khi lần đầu tiên nhìn thấy chiếc iPhone, mặc dù nó chưa hoàn chỉnh, tôi đã bị kinh ngạc trước thứ Steve có thể đặt vào thiết bị đó.



7. Jimmy Iovine - Người sáng lập và chủ tịch hội đồng quản trị của Interscope Records:



Bất kể mọi người nói gì về Apple, nều đó không phải là về Steve Jobs thì sẽ không có cửa hàng âm nhạc trực tuyến chính thống.



8. Bill Campbell - Chủ tịch hội đồng quản trị và cựu CEO của Intuit:



Điều lớn lao nhất mà tôi học từ ông đó là quan sát cách thức ông tuyển dụng. Ông là một phỏng vấn viên xuất sắc. Ông hiểu thứ ông muốn, và ông biết làm thế nào để có được những người tài năng. Và nếu bạn quan sát đội quản lý của ông sau 12 năm, một số người vẫn làm việc cho ông, một số người đã ra đi, nhưng dù ở bất kỳ vị trí nào, bạn đều thấy họ là một người quản lý chất lượng cao.




Nguồn: Tuần Việt Nam



Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

H. Mikitani, “nhà cách mạng” bán lẻ trực tuyến của Nhật



Cách đây hơn 10 năm, Hiroshi Mikitani từ bỏ công việc nhân viên ngân hàng đầu tư để thành lập công ty tư vấn của riêng mình.





Sau đó, vào năm 1996, ông thành lập Rakuten, hệ thống bán lẻ trực tuyến đầu tiên tại Nhật, cung cấp cho các nhà bán lẻ cách tiếp cận những khách hàng trực tuyến với một chi phí thấp nhất.



Trong mô hình kinh doanh của Mikitani, Rakuten không nắm giữ bất cứ cửa hàng nào. Với một mức phí nhỏ, các nhà bán lẻ có thể nhờ trang web này bán hàng thay. Khi một người tiêu dùng đặt hàng một sản phẩm qua mạng của Rakuten, đơn đặt hàng này sẽ được chuyển đến nhà bán lẻ. Rakuten được nhận 2,6% doanh thu bán hàng cho mỗi đơn hàng thành công.



Hiện nay hệ thống Rakuten đã có hơn 4.500 nhân viên. Có hơn 26.000 nhà bán lẻ sử dụng hệ thống này với 47 triệu người sử dụng có đăng ký, tương đương 40% dân số của đất nước mặt trời mọc. Với khối tài sản 3,4 tỷ USD, Hiroshi Mikitani đang đứng thứ 178 trong danh sách những người giàu nhất thế giới năm 2009 do tạp chí Forbes bình chọn.



Bước đi đúng hướng



Trong khi kinh tế Nhật đang rơi vào suy thoái, đã có người cho rằng, đấy là quãng thời gian tồi tệ nhất để xây dựng một dự án bán hàng trực tuyến.



Bất chấp những lời can ngăn dè bỉu, Mikitani chỉ ra cơ hội: “Tôi tin tưởng rằng, Internet sẽ cất cánh ở Nhật Bản và tôi muốn trở thành một phần của sự phát triển này”.



Bước ngoặt này đã được chứng minh là hướng đi đúng. Rakuten hiện là điểm đến mua sắm phổ biến nhất và lớn nhất trên những trang web tiếng Nhật. Và Mikitani là một trong những ngôi sao sáng nhất trên lĩnh vực Internet còn rất non trẻ của Nhật Bản vào thời điểm đó. Hàng ngày, hàng triệu khách hàng đã truy cập vào chợ trực tuyến để mua đủ thứ từ các cửa hàng không có đủ tiền hoặc không đủ điều kiện để xây dựng mạng lưới bán hàng hoặc trang web của riêng mình.



Vào một ngày thứ Sáu lạnh lẽo đầu năm 2009, giữa lúc môi trường kinh tế ngày càng u ám, Hiroshi Mikitani - người sáng lập, chủ tịch và là giám đốc điều hành (CEO) của mạng bán lẻ trực tuyến lớn nhất Nhật Bản, Rakuten Inc. - đã xua đi cái lạnh bằng một công bố tại cuộc họp báo là trong năm tài chính 2008, công ty của ông đã đạt được những kết quả kỷ lục.



Doanh thu bán hàng của Rakuten trong năm 2008 đã tăng đến 16,8%, lên mức 250 tỷ Yên. Kết quả này có được nhờ 20,2% tăng trưởng trong phân khúc thương mại điện tử và 24% tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ du lịch. Doanh thu từ thương mại điện tử của Rakuten đã chạm con số 92 tỷ Yên trong năm tài chính 2008 và đóng góp con số kỷ lục 26 tỷ Yên trong lợi nhuận hàng năm của công ty. Đồng thời, Rakuten Travel - một công ty con của Rakuten - đã thu hút được 25 triệu khách du lịch trong nước trong năm 2008.



Tất cả điều đó trái ngược với không khí nghẹt thở của môi trường kinh doanh trên cả nước, khi tổng doanh thu của các cửa hàng bách hóa giảm đến 4,3%, mức giảm lớn nhất của lĩnh vực này trong một thập kỷ qua.



Mikitani đã hạn chế tối đa rủi ro bằng việc giảm chi phí điều hành kinh doanh trên trang web và chú ý đến dịch vụ khách hàng. Các cửa hàng trên website này được giám sát chặt chẽ và một số đã bị buộc phải rời Rakuten vì các hoạt động kinh doanh bị cho là mờ ám.



Kỹ năng kinh doanh Mỹ trong văn hóa Nhật



Trong bài phỏng vấn với tạp chí The Japan Times vào giữa tháng 3/2009, Mikitani nói rằng tri thức chính là yếu tố mà công ty của ông mang lại để giúp các công ty nhỏ. Theo Mikitani, doanh thu của Rakuten trong năm khủng hoảng 2008 không những không giảm mà còn tăng, không phải do công ty của ông không chịu tác động từ cuộc khủng hoảng, mà nếu nền kinh tế tốt hơn thì Rakuten còn đạt doanh thu cao hơn.



Bán hàng trực tuyến đã và đang phát triển mạnh mẽ do nhiều lý do. Thứ nhất, nhu cầu tiêu dùng của con người là cực kỳ đa dạng, với Internet người ta có thể mua thêm nhiều thứ mà họ chưa từng biết đến trước đây. Thứ hai, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, người ta có rất ít thời gian và mọi người chú ý nhiều hơn đến giá cả. Mọi người tìm kiếm những sản phẩm tốt trên Internet vì mua bán trực tuyến là rẻ hơn. Thứ ba, mua sắm trực tuyến là rất tiện lợi, bạn có thể mua hàng trong khi vẫn ngồi tại nhà mình.



“Những đặc tính đó luôn đúng và cũng là lý do tại sao mua sắm trực tuyến lại có thể sống khỏe trong một nền kinh tế yếu ớt”, Mikitani khẳng định.



Vào tháng 4/2000, Mikitani đưa Rakuten lên sàn chứng khoán Jassdaq của Nhật Bản, đánh một tiếng chuông lớn trên thị trường bán hàng trực tuyến thế giới. Rakuten, với 50% cổ phần được Mikitani và gia đình nắm giữ, đã huy động được 430 triệu USD trong đợt đấu giá cổ phần lần đó. Kể từ đó, mức vốn hóa thị trường của công ty đã tăng lên 6 tỷ USD, trong khi nhiều doanh nghiệp thương mại điện tử mới niêm yết khác của Nhật Bản lại phải chứng kiến cảnh giá cổ phiếu sụt giảm mạnh mẽ thời gian gần đây. Rakuten hiện thu hút khoảng 70 triệu lượt xem một tháng, chỉ đứng thứ hai sau cổng trực tuyến Yahoo! Japan của Softbank.



Con người kinh doanh theo kiểu Mỹ của Mikitani được hình thành từ trước những ngày ông học ở Đại học Harvard. Khi còn là một đứa trẻ, Mikitani đã có hai năm sống ở New Haven, khi ông sống cùng bố mình là một giáo sư kinh tế tại Đại học Yale.



Lấy được bằng MBA tại Đại học Harvard, Mikitani có điều kiện để so sánh và cân nhắc chọn lựa con đường thành công của mình giữa hai nền văn hóa là Nhật và Mỹ. Ở Nhật, một người được gọi là thành công khi làm việc cho một công ty lớn và được trả lương hậu hĩnh. Trong khi tại Mỹ, chấp nhận rủi ro và bắt đầu sự nghiệp với công ty riêng của mình mới tạo nên một anh hùng thực thụ.



Vào thời điểm Mikitani thành lập Rakuten, Nhật Bản không có nhiều doanh nghiệp kinh doanh thành đạt trong lĩnh vực thương mại điện tử. Trong khi những công ty kinh doanh trực tuyến nở rộ hàng ngày trên khắp nước Mỹ, Nhật Bản vẫn ở trong thời kỳ đóng băng của các dự án Internet.



Với kinh nghiệm từ những ngày sống ở Mỹ, Mikitani tin tưởng rằng Internet sẽ mang lại những cơ hội mới. Vì thế, tháng 10/1996, ông thành lập Rakuten chỉ với hai nhân viên và không hề có kỹ thuật viên. Chỉ trong một năm, số công ty quảng cáo trên Rakuten đã tăng từ 21 lên con số 180. Rakuten trở thành một trong những trang web mua sắm trực tuyến được xem nhiều nhất ở Nhật Bản.



Mikitani tin rằng ai cũng có ước mơ và ai cũng có năng lực để làm được một điều vĩ đại. Nhưng sự khác biệt giữa người thành công và không thành công là những người thành công biết hành động vì ước mơ của mình, không ngại đương đầu với rủi ro nhưng đồng thời cũng chuẩn bị tinh thần để chấp nhận tất cả những khả năng có thể xảy ra.



Khi được hỏi, chìa khóa của thành công là gì, Mikitani lập tức trả lời, đó là ý chí mạnh mẽ và mong muốn đạt được mục tiêu. Một sinh viên hỏi ông, nếu đương đầu với rủi ro và gặp thất bại hay sai lầm thì sao, Mikitani đáp lại một cách hài hước: “Không có ngày nào trôi qua mà không có sai lầm. Mắc sai lầm cũng không sao, nhưng điều quan trọng là học được gì từ sai lầm đó để không bao giờ mắc phải nữa”.


Nguồn: VnEconomy



Biến doanh nghiệp nhỏ thành doanh nghiệp lớn



Doanh nghiệp nhỏ ngày càng tiên phong trong lĩnh vực tạo ra việc làm và thúc đẩy tinh thần kinh doanh vốn được coi là động lực chính của sự đổi mới trong nền kinh tế Mỹ. Nhưng liệu một công ty nhỏ có thể trở thành một “siêu tập đoàn” (SuperCorp) không, giống như những công ty lớn đang ngày càng phát triển như IBM và Procter & Gamble?





Một số công ty nhỏ có thể vượt qua những rào cản cao bằng một cú nhảy vọt - hoặc, trong trường hợp của Google, đi từ tay trắng đến hàng tỷ USD trong vòng chưa đến 10 năm. Mặc dù đạt được thành công như vậy là rất hiếm, nhưng những công ty nhỏ có thể có được sức mạnh thông qua trách nhiệm xã hội mang tính chiến lược, cho dù sản phẩm của họ là nhân sôcôla hay là chip điện tử máy tính.


Trong số những ứng cử viên trở thành SuperCorp của tương lai là một công ty phát triển nhà ở bất động sản Boston với 60 nhân viên và một tham vọng phát triển to lớn. Người thành lập cam kết gắn chặt trách nhiệm với công việc của nhà thầu phụ, chất lượng của các đại lý và tiện nghi cho người sử dụng.


Ông đánh giá cao dịch vụ cộng đồng, công nghệ xây dựng xanh, và cảm giác hạnh phúc nơi công sở. Ông cho rằng đó là lý do tại sao công ty ông vẫn có lợi nhuận trong suốt cuộc khủng hoảng bất động sản tồi tệ nhất trong nhiều thập kỉ qua.



Đây không phải là sự lý tưởng hóa; các tổ chức 2.0, một phản ứng thực tế với những nhu cầu xã hội và kinh tế của thế kỉ 21. Hãy xem xét 4 cách một doanh nghiệp có thể tạo ra sự sáng tạo, lợi nhuận, tăng trưởng và sản phẩm xã hội ở cùng một quy mô nhỏ.


Một SuperCorp đạt được đích nhắm bằng cách hợp nhất nhân viên theo đuổi một mục tiêu chung. Ví dụ với Honest Tea, một doanh nghiệp khởi nghiệp năm 1998 đã phát triển thành một nhà sản xuất đồ uống trà đóng chai lớn, mục tiêu được gắn liền với tên cũng như phương thức hoạt động. Mục tiêu đó đầy cảm hứng giúp thu hút, thúc đẩy và giữ chân những nhân viên làm việc tốt nhất, theo nghiên cứu về nhân viên tri thức thế hệ mới chỉ ra.


Khi mục tiêu, giá trị và những nguyên tắc định hướng cho những quyết định thì mọi người có thể được tin tưởng giao cho nhiều quyền tự quyết cũng như tự tổ chức hơn. Một hệ tư tưởng chung giúp giải quyết những bất đồng, tranh cãi hoặc giúp phản ứng nhanh trong khủng hoảng. P&G Trung Đông đã di tản nhân viên trước bất kì một công ty nào khác trong cuộc chiến giữa Li-băng và Israel bởi vì mỗi người trong P&G đều biết điều gì là đúng đắn phải làm.



Tương tự, nhân viên trong các công ty dịch vụ với những giá trị và nguyên tắc rõ ràng luôn sẵn sàng hỗ trợ đồng nghiệp hoặc đi trước đón đầu nhu cầu của khách hàng. Lãnh đạo của những công ty bán lẻ lớn như Macy hoặc chuỗi những nhà cung cấp nhỏ hơn như Wegman thường nói chuyện về những giá trị với nhân viên tuyến đầu của họ. Các công ty nhỏ cũng có thể nhanh chóng bàn luận về mục đích và nguyên tắc như một thói quen hàng tuần với mọi người trong cùng một căn phòng.


Một SuperCorp có mối liên hệ chặt chẽ với người sử dụng cuối cùng, hiểu được nhu cầu và vấn đề của họ và cảm thấy có trách nhiệm với sự thành công của họ. Thay vì bó hẹp sau bức tường của công ty, cho rằng phương pháp của mình là tốt nhất, một SuperCorp thường đặt gần người sử dụng tìm kiếm những ý tưởng mới bằng việc nghiên cứu mọi chuyện xung quanh họ.


Omron, một nhà công ty đa quốc gia đã yêu cầu đại diện bán hàng khu vực chỉ ra những ý tưởng mới từ những chuyến viếng thăm khách hàng. Lãnh đạo của P&G thường đến thăm hỏi gia đình các nhân viên. Digitas, một đại lý marketing tương tác thành lập vào năm 1999 từ sự khởi đầu nhằm tìm hiểu công việc kinh doanh của khách hàng tốt hơn chính bản thân họ để phục vụ khách hàng tốt hơn thông qua sự đổi mới.


Đóng góp với cộng đồng thúc đẩy sự sáng tạo do nó đòi hỏi động não tư duy để giải quyết những vấn đề nan giải từ khía cạnh người sử dụng. Trong một chương trình của IBM với các trường học công ở Mỹ, những nhà phát triển công nghệ đã sống ở khu nhà trường học (đôi khi trong những phòng nhỏ của những người bảo vệ) để quan sát giáo viên và cải tiến các phần mềm tiện ích ngay tại chỗ.


Thay vì những phần mềm thừa, những trường học này có được những công nghệ mới nhất và tốt nhất do các nhà phát triển phần mềm tạo ra cho họ trước cả thị trường thương mại. Hãy tưởng tượng rằng: cho đi một điều gì đó trước, tạo dựng được lòng tin, sự tín nhiệm thông qua sự đóng góp cho cộng đồng và sau đó có được công việc kinh doanh mang lại lợi nhuận.


Một SuperCorp có được sự bành chướng và tầm ảnh hưởng thông qua trách nhiệm mở rộng. Một SuperCorp xây dựng đối tác kinh doanh tại mỗi chuỗi cung cấp, từ nhà cung cấp của nhà cung cấp đến khách hàng của khách hàng để có thể đảm nhận trách nhiệm một cách hệ thống đối với nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng và quần chúng - đó là lý do tại sao Starbucks mua một thương hiệu cà phê nổi tiếng và Levi-Strauss và Nike lại tăng tiêu chuẩn lao động tại các nhà máy sản xuất tại châu Á.


Các đối tác có nhận định về các xu hướng giúp cung cấp thông tin có ích về những năng lực mới (tại cuối mỗi chuỗi cung cấp) hoặc những thị hiếu mới (tại cuối mỗi thị trường). Cemex, công ty ximăng toàn cầu của Mexico, tạo ra thương hiệu thông qua những công ty phần cứng độc lập, cấp cho họ máy tính, đạo tào và các cơ hội dịch vụ cộng đồng. Những công ty này giành được công việc kinh doanh, Cemex có được kênh phân phối và thông tin về người sử dụng cuối cùng tốt hơn. Mạng lưới đối tác đem lại sức mạnh để làm những việc mà một doanh nghiệp không thể tự làm.


Một SuperCorp giành được khách hàng/đối tác bằng việc nói chuyện về những giá trị trước khi buôn bán. Trong ngành công nghiệp của Omron (cảm biến điện tử) khoảng một nửa các giao dịch thông qua những cuộc gọi đều có chung kết quả là bị từ chối, tuy vậy những nhân viên bán hàng của Omron gần như đều thực hiện được những giao dịch ngay trong cuộc gọi đầu tiên bởi vì những thảo luận đầu tiên Omron nói đến là về giá trị. Điều đó mang lại kết quả, như một công ty ở Valley Silicon, bằng việc trước tiên có những cuộc nói chuyện trao đổi lâu về những giá trị.



Tương tự, Publicis Groupe lôi kéo được những công ty quảng cáo được coi là không thể nào lôi kéo được tham gia vào hệ thống mạng lưới toàn cầu của mình bởi vì vị CEO nhấn mạnh và nói đến các giá trị, trách nhiệm xã hội với chủ các công ty đó trước khi bàn đến việc kinh doanh.


Gắn với các nguyên nhân mang tính xã hội thậm chí còn tốt hơn vì điều đó minh chứng cho giá trị bằng hành động. Các ủy ban phi lợi nhuận, các hội đồng dân sự đem lại cơ hội cho các mối quan hệ trước tiên rồi mới đến các giao dịch. Một chuyên viên bán hàng quốc tế cấp cao của IBM cho biết các dự án cộng đồng của công ty là những cuộc đối thoại với khách hàng tốt nhất. Những công ty nhỏ cũng có thể tham gia vào bằng cách cho mượn những nhân viên giỏi thay vì cho vay vốn và tạo được ấn tượng với đối tác với năng lực của họ.


Bằng việc suy nghĩ vượt khỏi quy mô và các giá trị, các công ty nhỏ có thể đạt được sức mạnh kinh doanh to lớn nhằm hoàn thành những mục tiêu cao hơn. Vì sự phục hồi của nền kinh tế, tôi hy vọng rằng họ làm điều này nhanh hơn những tập đoàn kinh tế lớn.


Nguồn: Tuần Việt Nam



Wal-Mart: Giàu nhất nhờ bán hàng rẻ nhất



Câu chuyện của Wal-Mart bắt đầu từ giữa thế kỷ trước, khi cửa hàng 5 xu và 1 hào (five-and-dime) đầu tiên của đôi vợ chồng Sam Walton và Helen Walton ra đời.





Vào một ngày mùa thu khô và lạnh của năm 1983, có khoảng… 9.300 người dân thị trấn Bentonville, Arkansas tụ họp lại để nâng cốc chúc mừng những người láng giềng làm ăn phát đạt của mình. Đó là ngày họ thể hiện niềm cảm kích đối với Sam và Helen Walton. Một cuộc diễu hành náo nhiệt với những đoàn người và xe rước được tổ chức để ca ngợi những người con của địa phương đã thay đổi hướng đi của ngành kinh doanh bán lẻ cũng như thành phố quê hương họ. Chân dung của họ xuất hiện ở khắp mọi nơi. Tờ báo địa phương đã cho in một ấn bản kỷ niệm đặc biệt. Tổng thống Reagan gọi điện thoại chúc mừng. Và gia đình Walton đã hòa mình vào lễ hội từ vị trí duyệt binh trên phố chính, ngay đối diện nơi họ đã mở cửa hàng five-and-dime đầu tiên vào năm 1950.


Dĩ nhiên mọi việc diễn ra rất suôn sẻ trong suốt ba thập niên kế tiếp với Sam Walton cũng như chuỗi cửa hàng hạ giá Wal-Mart mà ông đã sáng lập ra sau này. Ông được xem như ông vua của ngành kinh doanh bán lẻ. Và chỉ trong vòng hai năm, tạp chí Forbes đã tuyên bố ông là người giàu nhất nước Mỹ.


Nhưng sự khởi đầu của Wal-Mart cũng có thể đã khiến Walton tự hỏi không biết mình đã đi đúng con đường sự nghiệp hay chưa. Cũng đúng vào năm ông động thổ cửa hàng hạ giá Wal-Mart đầu tiên ở Rogers, Arkansas, thì ba chuỗi cửa hàng lớn khác - là Kmart, Woolco và Target - cũng khai trương. Và khi Walton khai trương cửa hàng thứ hai của ông ở gần Harrison, số dưa hấu chứa đầy hai xe tải đang trưng bày ở dọc vỉa hè đã nổ dưới cái nóng của mùa hè - báo hiệu một điềm chẳng lành.


Mặc dù vậy, Walton vẫn đứng vững và tầm nhìn của ông đã chứng tỏ sự thành công rất lâu trước khi ông qua đời vào năm 1992 ở tuổi 74. Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, Wal-Mart đang kinh doanh mọi thứ có thể bán được trong các siêu thị của mình, từ dụng cụ và trang phục thể thao cho đến đồ gia dụng và tạp phẩm. Ba loại siêu thị (cửa hàng hạ giá truyền thống, siêu cửa hàng, và cửa hàng cho thành viên) đã có mặt ở khắp mọi nơi với khoảng 4.000 địa chỉ trên tất cả 50 bang của Mỹ và 9 quốc gia trên thế giới từ Canada cho đến Trung Quốc cùng với một website còn mới mẻ nhưng ẩn chứa tiềm năng to lớn, sự kết hợp vững chắc này đã đưa Wal-Mart trở thành công ty bán lẻ số một thế giới.


Trong khi có một vài người chỉ trích rằng Wal-Mart đang tiêu diệt những siêu thị quy mô nhỏ, nhưng họ đã làm được rất nhiều điều để giúp đỡ những người dân địa phương và các nhân viên. Và dù mọi chuyện có đi theo chiều hướng nào, thì Wal-Mart cũng đã thay đổi bộ mặt của ngành kinh doanh bán lẻ.



Dường như sứ mệnh của Samuel Moore Walton là tạo ra những điều vĩ đại. Là con trai của một nhà môi giới cầm cố trang trại, ông là hướng đạo sinh cấp Đại bàng (Eagle) trẻ nhất trong lịch sử vùng Missouri. Ông cũng là chủ tịch hội học sinh khi còn học trung học, đồng thời là tiền vệ trong đội bóng bầu dục vô địch của bang. Khi còn là một cậu bé, ông đã từng mơ ước trở thành tổng thống Mỹ. Đến khi trưởng thành, ông muốn có bằng cử nhân quản trị kinh doanh từ ngôi trường Wharton danh tiếng. Tuy nhiên, những khó khăn về mặt tài chính đã buộc ông phải suy nghĩ lại, và ba ngày sau khi tốt nghiệp Đại học Missouri vào năm 1940, ông đã chấp nhận vị trí thực tập quản lý tại cửa hàng J.C. Penney ở Des Moines, Iowa.


Công việc này rất vất vả và lương chỉ khoảng 75 đôla một tháng, nhưng thách thức và tiềm năng đã thuyết phục Walton ngay từ đầu rằng kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh bán lẻ nói riêng chính là con đường tương lai của ông. Thậm chí, ông còn thấy tự tin hơn khi người sáng lập ra chuỗi cửa hàng, James Cash Penney một ngày nọ đã ghé ngang chỗ ông làm việc và đích thân dạy chàng trai trẻ cách buộc một gói hàng sao cho tiết kiệm dây và giấy gói nhất. Cả hai bài học về một ban quản lý không chỉ biết chỉ tay năm ngón, và tinh thần tiết kiệm trong tập thể đã gây ấn tượng lớn đối với Walton. Những bài học này theo ông suốt đời.


Walton rời bỏ thế giới kinh doanh trong một thời gian ngắn vì phải làm nghĩa vụ trong quân ngũ. Sau khi xuất ngũ vào năm 1945, ông mua lại cửa hàng tạp phẩm Ben Franklin ở Newport, Arkansas. (Sau này ông nói rằng mình muốn mở một cửa hàng ở St. Louis, nhưng Helen vợ ông không chịu dời đến một thị trấn có hơn 10.000 dân). Walton nhanh chóng trở thành một thương gia tuyệt vời của thị trấn nhỏ này, đáp ứng được những sở thích và nhu cầu đặc biệt của những người dân địa phương. Cùng lúc đó, ông bắt đầu tìm kiếm những nguồn hàng trong vùng có giá rẻ hơn nguồn hàng hiện thời của ông. Sau khi làm việc cả ngày ở cửa hàng, ông buộc một chiếc xe rơ-moóc vào ôtô và lái xuyên qua địa phận bang Tennessee và Missouri để tìm kiếm những sản phẩm mà khách hàng của ông mong muốn. Sau đó ông bán chúng với giá rẻ nhất có thể, và nhanh chóng bán sạch hàng hóa của mình.


Dĩ nhiên Walton cũng đã nhận thức được sự cần thiết của việc hạ giá bằng cách giảm giá, doanh số và lợi nhuận đã tăng vụt. Những người ở Ben Franklin không thích điều này, nhưng khách hàng thì chắc chắn là có. Chỉ trong vòng chưa đến 5 năm, cửa hàng của Walton đã là một thành quả tuyệt vời. Tuy nhiên, người chủ mặt bằng nơi Walton thuê đã quyết định rằng đó là một nơi lý tưởng cho công việc kinh doanh của con trai ông ta, và ông này đã từ chối cho Walton tiếp tục thuê cửa hàng. Lúc này, Walton không còn nơi nào để đi trong ngôi làng nhỏ này, ông buộc phải bán xới tất cả và bắt đầu lại từ đầu ở một nơi khác. Ông đến thị trấn Bentonville - một thị trấn còn nhỏ bé hơn thị trấn trước, như ông đã lưu lại trong trí nhớ - bởi vì nơi đây tạo cơ hội cho ông tiếp cận mùa đi săn của cả bốn bang.


Trong khoảng thời gian này, ông đọc được về hai cửa hàng “tự phục vụ” giảm giá ở Minnesota, và sau khi ghé thăm những nơi đó, ông đã quyết định rằng cửa hàng mới của ông ở Bentonville cũng sẽ có những kệ hàng hóa với quầy thu ngân ở phía trước. Ông gọi nó là cửa hàng Five and Dime của Walton, và tung ra những đợt khuyến mãi đặc biệt, ví dụ như một tá kẹp áo chỉ có giá 9 cent. Những khách hàng hổ hởi kéo đến từ ngày đầu tiên khai trương, và không hề có dấu hiệu sẽ giảm trong những ngày kế tiếp.


Vào năm 1960, Walter và em trai mình, James L. “Bud” Walton, đã sở hữu 15 cửa hàng như vậy, kiếm được 1,4 triệu đô-la tổng doanh thu hàng năm. Nhưng Sam - như Walton vẫn thích được gọi như vậy - vẫn chưa thỏa mãn và bắt đầu xem xét những cách thức mới để mở rộng mô hình kinh doanh. Ông nhận thấy có một trong số những cửa hàng hạ giá bất ngờ nổi lên trong khu vực nội thành bằng cách bán nhiều loại hàng hóa với giá rẻ hơn tất cả các đối thủ cạnh tranh khác. Khi một trong số đó bắt đầu mở rộng đến nơi ông sinh sống ở Arkansas, Walton biết rằng mình phải hành động ngay. Và vào ngày 2 tháng 7/1962 - ở tuổi 44 - ông cho khai trương cửa hàng Wal-Mart số 1 ở Rogers.


Mọi người đều cho rằng giấc mơ đem loại hình bán hàng hạ giá đến những thị trấn nhỏ, hẻo lánh của ông là điên rồ. Ông và Helen buộc phải cùng ký vào tất cả các giấy vay tiền, thế chấp căn nhà và tài sản của họ để bảo đảm. Nhưng ý tưởng này rất được ưa chuộng. Trong vòng 5 năm, ông đã có 19 cửa hàng như vậy, bao gồm cả cửa hàng cũ của ông ở Newport (nơi mà cửa hàng Ben Franklin của con trai ông chủ cho thuê mặt bằng dạo ấy đã đóng cửa). Ngược lại, Kmart mở 250 cửa hàng vào cùng thời gian đó, nhưng họ kiên quyết bỏ qua những thị trấn với dân số ít hơn 50.000 người, tạo cơ hội cho Wal-Mart thoải mái khai thác khu vực của mình.


Walton tập trung áp dụng những gì ông đã học được trong suốt hai thập niên đã qua. Mỗi cửa hàng đều phục vụ sở thích của người dân địa phương và đề cao những loại hàng hóa sản xuất trong vùng. Tất cả đều tôn vinh các thành tựu của thành phố quê hương và hỗ trợ các hội từ thiện lân cận. Các nhân viên được gọi là “cộng tác viên” và được đề nghị các kế hoạch chia sẻ lợi nhuận rất hào phóng. Những người mua hàng được tiếp đón nồng hậu mỗi khi ghé đến cửa hàng. Kiến trúc xây dựng được xếp thứ yếu; sự đa dạng của hàng hóa là điều quan trọng nhất. Và nhất là, giá cả ở các cửa hàng này hầu như không thể thấp hơn được nữa. Đó là mô hình đã giúp Wal-Mart trở nên ngày càng thịnh vượng. Vào năm 1970, Wal-mart được cổ phần hóa.


Lợi nhuận ngày càng tăng đã thúc đẩy sự phát triển của công ty sang một giai đoạn mới. Họ đã bỏ tiền xây dựng một hệ thống tự phân loại và phân phối, mang hàng hóa đến cho những nơi xa xôi hẻo lánh mà các nhà cung cấp truyền thống không thể đến được. Công ty cũng làm cho những người sáng lập ra nó trở nên vô cùng giàu có, nhưng không làm thay đổi đáng kể những giá trị hay kế hoạch của họ. Giống như ông chủ cũ James Cash Penney, Walton cố gắng đến thăm mỗi cửa hàng ít nhất một lần trong năm. Và ngay cả khi ông còn mua cả một chiếc phi cơ riêng để làm việc đó (do ông tự lái), ông vẫn lái chiếc xe chở hàng Ford quanh thị trấn Bentonville. Ông đã từng hỏi: “Tôi nên chở những con chó của tôi đi lòng vòng bằng gì đây, một chiếc Rolls-Royce ư?”.



Vào thập niên 80, Wal-Mart bắt đầu thực hiện việc vi tính hóa khâu bán hàng và kho hàng, làm cho công việc trở nên ngày càng hiệu quả. Họ đã trở thành một nỗi ghen tị của nền công nghiệp bán lẻ. Mặc dù vậy, Walton vẫn bám sát từng khía cạnh trong hoạt động kinh doanh của công ty. Ông vẫn đội chiếc nón Wal-Mart, đeo bảng tên và đi từ cửa hàng này sang cửa hàng khác, khích lệ các cộng tác viên với bài cổ vũ nổi tiếng của mình (Cho tôi chữ W…, cho tôi chữ A…), hỏi han họ về giá cả cũng như phần trăm doanh thu. Nếu một đối thủ cạnh tranh khai trương một cửa hàng gần đó, ông liền bỏ chiếc nón và bảng tên ra, và đi kiểm tra cửa hàng này ngay. Thông thường, ông thường chiêu đãi các nhân viên một giờ ăn trưa. Thậm chí có một lần, ông còn đem theo rất nhiều bánh rán đến trung tâm phân phối của công ty vào lúc 2h30 sáng, để chiêu đãi những công nhân ca đêm ở bãi chất hàng.


Walton được xem là người giàu nhất nước Mỹ lần đầu tiên vào năm 1985. Tuy nhiên, ông ghét danh hiệu đó đến nỗi ông đã chia hàng tỷ đôla của ông cho các thành viên trong gia đình. Thứ duy nhất có thể khuất phục tinh thần làm việc không biết mệt mỏi của ông là căn bệnh ung thư xương, nó đã thật sự khiến ông gục ngã, chỉ một tháng sau khi Tổng thống Bush cha trao tặng ông Huy chương Tự do của Tổng thống. Bush đã gọi ông là “một người Mỹ tiêu biểu cho tinh thần doanh nhân và là mẫu mực cho giấc mơ Mỹ”.


Nguồn: VnExpress



Thứ Năm, 26 tháng 11, 2009

20 mẫu thiết kế logo nổi tiếng



Nếu có một điều gì đó chúng ta có thể học được từ các logo nổi tiếng như Nike hay FedEx, đó chính là logo không cần cần phải quá cầu kỳ mới có hiệu quả. Hy vọng, bộ sưu tập các logo nổi tiếng này sẽ chứng minh được rằng đơn giản là yếu tố quyết định cho một logo dễ nhớ.





01 - Logo Coca-Cola


Logo nổi tiếng Coca-Cola do Frank Mason Robinson, nhân viên kế toán của John Pemberton (cha đẻ của công thức pha chế nước sirô ngòn ngọt chữa bệnh đau đầu, sau đó được đặt lên là Coca-Cola), thiết kế năm 1885.



02 - Logo Audi


Biểu tượng Audi là bốn vòng tròn đan vào nhau thể hiện bốn nhãn hiệu trong liên minh ô tô (Auto Union - 4 công ty thành lập nên). Audi biểu tượng cho sự kết hợp của Audi với DKW, Horch và Wanderer: Vòng tròn đầu tiên biểu tượng cho Audi, vòng tròn thứ hai là DKW, thứ ba là Horch và thứ tư là Wanderer.



03 - Logo Apple


Logo của Apple do Rob Janoff thiết kế vào năm 1976. Màu nền cầu vồng được sự dụng cho đến năm 1998.



04 - Logo USA Network


Logo USA Network được sử dụng từ năm 2005 đến nay.



05 - Pepsi-Cola Logo


Logo Pepsi-Cola đã được thay đổi nhiều lần trong những năm qua. Logo hiện nay được dùng là phiên bản từ năm.



06 - Logo Walt Disney



07 - Logo IBM


Logo IBM do nhà thiết kế Paul Rand thực hiện năm 1972.



08 - Logo Nike


Logo Nike là tác phẩm thiết kế vào năm 1971 của Carolyn Davidson, sinh viên chuyên ngành thiết kế đồ họa - Đại học tổng hợp bang Portland.



09 - Logo Nintendo



10 - Logo Puma


Logo luôn gắn bên cạnh của những chiếc giầy mang hiệu Puma được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1958.



11 - Logo AT&T


AT&T Logo


12 - Atari Logo



13 - Logo Google


Logo chính thực hiện nay của Google do Ruth Kedar thiết kế và là kiểu logo dựa trên font chữ Catull.



14 - Logo FedEx


Logo FedEx có điểm đặc biệt là có hình mũi tên ẩn giữa chữ cái “E” và “X”.



15 - Logo Adidas


Công ty đăng ký tên adidas AG (chữ adidas viết thường) vào ngày 18/08/1949. Các mẫu thiết kế giầy và quần áo có đặc trưng là ba sọc kẻ song song, và motif này vẫn được kết hợp trong logo chính thức hiện nay của Adidas.



16 - Logo McDonaldo



17 - Logo Starbucks


Logo có hình "mỹ nhân ngư hai đuôi".



18 - Logo LEGO



19 - Logo Chanel


Logo có hình chữ ‘C’ kép lồng nhau - một mặt hướng về trước và một mặt hướng về phía sau.



20 - Logo American Broadcasting Company (Công ty Truyền thông Mỹ)



(Dịch thuật Việt theo Toxel.com)



Thứ Ba, 24 tháng 11, 2009

Opera 10.10: kết hợp Web Browser và Web Server



Đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ Mozilla và Microsoft, thì điều duy nhất Opera có thể làm để tiếp tục cạnh tranh đó là cải tiến. Và mặc dù không có được lượng người dùng lớn khi sử dụng làm trình duyệt trên máy tính để bàn, nhưng Opera luôn đi trước một bước so với các đối thủ còn lại, cho dù kết quả xấu hơn hoặc tốt hơn!





Với phiên bản 10.10, Opera đã có bước đi táo bạo nhất từ trước đến nay khi kết hợp web browser (trình duyệt web) với web server (máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với những thông tin liên quan khác). Điều này rõ ràng làm cho Opera trở thành trình duyệt độc đáo so với các trình duyệt khác, tuy nhiên chúng ta sẽ luôn tự hỏi liệu các tính năng mới này có thật sự cần thiết hay liệu có làm người dùng thêm khó khăn khi lựa chọn sử dụng?



Với Opera Unite được tích hợp trong trình duyệt, việc duyệt web sẽ chỉ là vấn đề đọc/viết. Bạn có thể chia sẻ ảnh ( lên đến 10 GB), âm nhạc, chức năng chat thậm chí là cả website trực tiếp từ trình duyệt của mình. Trên website chính thức của mình, Opera cho thấy kỳ vọng rất cao vào công nghệ này:



“Tất cả các thiết bị của chúng tôi sẽ thay đổi. Từ máy tính điều khiển trên xe tải cho đến các hệ thống giải trí trên máy bay; từ netbook (một dạng laptop mới, được định nghĩa dựa trên kích thước nhỏ, giá thành thấp, hiệu năng không cao và một hệ điều hành phiên bản cũ hoặc ít thông dụng) tại North Dakota (tiểu bang ở cực bắc Hoa Kỳ) đến điện thoại ở vùng Bắc Phi, mọi thiết bị đều vừa là đơn vị tiêu dùng vừa là nhà cung cấp nội dung.”



Ý tưởng này chắc chắc khá thú vị, nhưng web đang phát triển theo hướng khác trong mấy năm trở lại đây: đó chính là điện toán đám mây (điện toán máy chủ ảo). Thay vì chạy ứng dụng nào đó trên máy tính của mình, các ứng dụng và dữ liệu của bạn sẽ chạy trên máy chủ ảo (cloud), với tất cả các nguồn lực và kỹ thuật do một công ty cung cấp, ví dụ như Google. Vì thế, dĩ nhiên với Opera Unite, bạn có thể host (đặt máy chủ) một website trên máy tính của riêng mình tại nhà; tuy nhiên, bạn có thể gặp những vấn đề về băng thông; với Google Sites, bạn có thể dễ dàng tạo một website mà chẳng cần phải lo lắng về băng thông. Đến nay, mặc dù có những vấn đề liên quan đến bảo mật riêng tư và an ninh mạng, nhưng điện toán đám mây đang phát triển vượt trội và thật khó có thể tưởng tượng Opera lại đang đi khác hướng dòng chảy này. Một số ứng dựng của Opera Unite như media server hay chat rất hữu ích và có thể thắng thế đối với một số ứng dụng cải tiến dành cho phiên bản tiếng Na-Uy.



Các tính năng thú vị khác trong Opera 10.10 bao gồm công nghệ Turbo giúp tăng cường tốc độ duyệt bằng cách nén các trang web trên các máy chủ của Opera và trả lại cho bạn bản “lite” (phiên bản có dung lượng nhẹ hơn); tính năng của Opera Link cho phép bạn đồng bộ hóa dữ liệu chéo trên nhiều máy tính, có thanh tab bar có thể tùy chỉnh kích cỡ và khá bắt mắt. Bạn có thể xem đầy đủ tính năng tại đây.


Dịch thuật Việt theo Mashable



Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

Các hãng bán lẻ quan tâm đến môi trường



Cuộc khảo sát được tiến hành với 200 công ty bán lẻ tại Canada, Scotland, Nhật Bản, Tây Ban Nha và Pháp, liệt kê được danh sách 15 công ty bán lẻ hàng đầu thế giới về thân thiện với môi trường. Các công ty này đều có những hoạt động bảo vệ môi trường tốt nhất nhằm giúp ngành công nghiệp phát triển bền vững và tăng cường lợi nhuận cho họ.





Các nhà nghiên cứu xác định Mountain Equipment Co-op, IKEA Canada, Walmart và Home Depot là các công ty xanh (green companies) hàng đầu tại Canada.



Các công ty xanh được xếp hạng tại các nước khác gồm có H-E-B tại Mỹ; LUSH, Marks & Spencer, Alliance Boots, Monsoon and Tesco tại Anh; Musgrave Group tại Ireland; Monoprix and Carrefour tại Pháp; Aeon ở Nhật Bản và Woolworths tại Australia.



Sử dụng các tấm pin năng lượng mặt trời và sưởi ấm bằng địa nhiệt làm nguồn năng lượng và tạo ra "các đại sứ sinh thái" nhằm thực hiện các sáng kiến là một trong số các hoạt động "xanh" đang được tiến hành; tuy nhiên, mấu chốt vẫn là sự tham gia của nhân viên và quản lý.



Trung tâm nghiên cứu hoạt động thương mại (CSCA) thuộc Đại học Ryerson hiện đang tuyển các tư vấn bên ngoài nhằm hỗ trợ xây dựng chiến lược thân thiện môi trường, quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường đến nhân viên và thường xuyên cập nhật chính sách cũng như thành tích về phát triển bền vững.



Cuộc khảo sát cũng xác định danh sách các công ty hàng đầu về lãng phí nguồn năng lượng; trong đó có đến 80% số công ty gây lãng phí, phát thải khí CO2, vận tải và sử dụng nước.



Ngoài ra, suất sinh lời (ROI) cũng trở thành vấn đề trọng tâm; trong đó cả công ty lớn và nhỏ đều nhận thức được rằng mức độ ổn định sẽ có suất sinh lời tốt và tạo nên những khác biệt trong kinh doanh.



Ba phương pháp chính để xác định mức độ thành công đó là tiết kiệm chi phí, giảm phát thải khí CO2 và sinh lợi.

Nghiên cứu khác cũng thông báo việc xác định và xử lý các rào cản mà có thể các nhà bán lẻ sẽ gặp khi thực hiện các công tác bền vững.


Dịch thuật Việt theo E-commercial Journal



Khủng hoảng thúc đẩy sáng tạo



Một vài kinh nghiệm về số hóa các cơ quan hành chính ở Mỹ nhằm hướng tới việc xây dựng các thành phố thông minh. Đối với một doanh nghiệp hoặc chính phủ, khủng hoảng có thể thúc đẩy sự sáng tạo.





Điều này đang được chính quyền các bang và địa phương ở Mỹ nói đến trong những ngày này. Sonny Perdue, Thống đốc bang Georgia, nói: “Sức ép kinh tế sẽ buộc chúng tôi trở nên hiệu quả hơn và làm thay đổi cách thức chính quyền phân phối những dịch vụ của mình.”


New York đi tiên phong



Ông Perdue là một trong hơn 500 quan chức chính phủ, doanh nhân và học giả vừa tham dự một hội nghị kéo dài hai ngày ở thành phố New York trong tháng Mười. Một trong những người tài trợ cho hội nghị có chủ đề “Smarter Cities” (“Những thành phố thông minh hơn”) này là hãng IBM.



Vị trí đặt quảng cáo



Đây là dấu hiệu cho thấy công nghệ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ chính quyền giải quyết những vấn đề hóc búa thuộc những lĩnh vực như quản lý giao thông, sử dụng năng lượng, y tế công, giáo dục và dịch vụ xã hội.



Cũng như doanh nghiệp, không ít chính quyền địa phương đang vật lộn với tình trạng tràn ngập dữ liệu. Các cơ quan thu thập một lượng thông tin khổng lồ về đủ loại đề tài, từ giấy phép xây dựng cho tới bảo hiểm y tế. Vì thế, nhiều chuyên gia và quan chức cho rằng công nghệ có thể là một công cụ mạnh để khai thác lượng dữ liệu khổng lồ này, từ đó giúp cải thiện hiệu quả các dịch vụ công.



Michael R. Bloomberg, Thị trưởng New York, nhận định: “Nhiều người nghĩ ra chỉ cần thu thập dữ liệu là xong chuyện. Đây là một sai lầm. Để đạt được lợi ích, chúng ta phải tiến hành thêm một bước nữa là thật sự sử dụng chúng.”



Tại Mỹ, New York là thành phố đi tiên phong trong việc sử dụng sức mạnh điện toán để sàng lọc dữ liệu nhằm cải thiện những dịch vụ được cung cấp. Xu hướng này bắt đầu vào những năm 90 của thế kỷ trước với hệ thống CompStat dùng để lập bản đồ, nhận biết và dự báo tội phạm. Hệ thống này đã giúp giảm tỷ lệ tội phạm ở New York, và sau đó được nhiều thành phố khác áp dụng.



Vào năm 2002, thành phố này bắt đầu đưa ra dịch vụ điện thoại 311 để trả lời các ý kiến thắc mắc về những dịch vụ của chính quyền hoặc để người dân thông báo những vấn đề nảy sinh. Vào đầu năm nay, dịch vụ bắt đầu được triển khai trên web.



Năm 2006, thành phố bắt đầu một dịch vụ trực tuyến – gọi là NYC Business Express – để giúp việc xin giấy phép trở nên dễ dàng và nhanh hơn. Chẳng hạn như thời gian xin giấy phép xây dựng đã được giảm từ 40 ngày xuống còn bảy ngày. Các chuyên gia cho rằng những bước cải thiện như thế có thể góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của các hệ thống dịch vụ công, từ đó thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.



Hướng đến thành phố thông minh



Việc kết nối các cơ sở dữ liệu của chính quyền có thể đóng một vai trò quan trọng. Sở Cứu hỏa New York đã hợp tác với IBM để phát triển một hệ thống tổng hợp thông tin về sơ đồ tầng lầu của các tòa nhà, các cuộc kiểm tra về an toàn, cháy nổ và những vi phạm, nếu có, từ các cơ quan thành phố, rồi sử dụng phần mềm để phân tích và đưa ra dự báo.



Lính cứu hỏa có thể truy cập thông tin cần thiết trên máy tính cầm tay khi đang trên đường làm nhiệm vụ. Hệ thống hoạt động theo thời gian thực này – dự kiến được triển khai vào năm tới – sẽ giúp hướng dẫn cách thức chữa cháy sao cho có hiệu quả và giúp lính cứu hỏa tránh gặp nguy hiểm.



Tại hạt Alameda ở bang California, cơ quan dịch vụ xã hội gần đây đã tập hợp thông tin vào trong một kho dữ liệu duy nhất. Phần mềm được sử dụng để tổng hợp thông tin về một cá nhân và hiển thị nó dưới dạng một trang web cho nhân viên phụ trách. Donald Edwards, trợ lý giám đốc cơ quan, cho biết hệ thống mới giúp các nhân viên xã hội cập nhật thông tin, tiết kiệm thời gian và xử lý công việc có hiệu quả hơn.



Ngoài ra, cơ quan này ước tính rằng hệ thống sẽ giúp họ tiết kiệm 11 triệu đô-la Mỹ mỗi năm từ việc loại bỏ công việc trùng lắp và phát hiện gian lận. Trong khi đó, thành phố Dubuque, bang Iowa đang thử nghiệm một dự án hứa hẹn giúp thành phố này trở nên thông minh hơn thông qua việc sử dụng công nghệ số.



Trong vài năm tới, thành phố 60.000 dân này sẽ sử dụng bộ cảm biến, phần mềm và Internet để cung cấp cho chính quyền và khách hàng cá nhân những công cụ số để đo đạc, giám sát và thay đổi cách thức sử dụng nước, điện và giao thông.



Giai đoạn đầu tiên của dự án bao gồm việc lắp đặt điện kế và đồng hồ nước kỹ thuật số tại 250 ngôi nhà và doanh nghiệp. Đồng hồ nước thông minh được tích hợp công nghệ cảm biến đặc biệt giúp phát hiện tình trạng rò rỉ nước. Trong khi đó, điện kế điện tử thông minh có thể theo dõi việc sử dụng năng lượng và đề xuất những phương cách tiết kiệm để giảm bớt tiền điện. Ngoài ra, loại điện kế này có thể truy cập vào một trang web để điều chỉnh nhiệt độ trong nhà cho phù hợp với thời tiết bên ngoài.



Dự án này cũng có sự đầu tư của IBM, vốn xem đây là một công trình nghiên cứu. Robert Morris, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu các dịch vụ tại IBM, nói: “Đối với chúng tôi, Dubuque giống như một phòng thí nghiệm sống. Chúng tôi muốn học hỏi ở Dubuque và xuất khẩu những gì tốt nhất sang nơi khác.”


(Nguồn: TBKTSG)



Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2009

Liệu sẽ có Windows 8 vào năm 2012



Steven Sinofsky, trưởng bộ phận Windows và Windows Live của Microsoft, có thể đã không nói về kế hoạch phiên bản Windows tương lai của Microsoft; tuy nhiên, nhóm phát triển Windows Server lại đang cho khách hàng thấy lộ trình cho ra đời phiên bản Windows mới.





Trong ít nhất hai slide trình bày tại Hội nghị các nhà phát triển chuyên nghiệp (PDC) ngày hôm 18/11/09 tại Los Angeles, Microsoft cho thấy sẽ có bản cập nhật lớn cho Windows Server dự kiến vào năm 2012; một trong hai slide đó xác nhận có tên mã Windows 8.



Nhà báo Ina Fried của Cnet đã hỏi cả nhóm phát triển máy desktop và server về chi tiết hai slide này. Bạn có thể phỏng đoán theo lộ trình cập nhật này của blogger Stephen Chapman như hình mô tả lộ trình dưới đây:



Sơ đồ phác họa lộ trình ra các phiên bản Windows (Nguồn: msftkitchen.com)


Sơ đồ phác họa lộ trình phát hành Windows Server (Nguồn: msftkitchen.com)

Về phần mình, Sinofsky gần như hoàn toàn không có phản ứng gì và cũng không dùng bất cứ từ nào liên quan đến số 8 cho từ Windows.



Khung thời gian năm 2012 trùng với kế hoạch đưa ra bản cập nhật nhỏ cho Windows Server theo chu kỳ hai năm một lần và bản cập nhật lớn bốn năm một lần. Đó chính là Windows Server 2008 R2, bản cập nhật nhỏ, đầu năm nay khi nhóm phát triển destop công bố phiên bản Windows 7.



Trong những năm gần đây, Microsoft có chiều hướng sắp xếp các phiên bản desktop (cho máy để bản) và server (máy chủ) rất gần nhau, mặc dù trong trường hợp này hệ điều hành cho desktop (desktop OS) có thể quan trọng hơn phiên bản dành cho server.


Dịch thuật Việt theo Cnet

10 lời khuyên cho kinh doanh trực tuyến



Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử khi xây dựng trang web của mình cần lưu ý là trang web của họ có sự điều hướng mang tính trực giác và cấu trúc tiện lợi, không chỉ đóng vai trò giúp khách hàng nhìn và cảm nhận.





Dưới đây là 10 lời khuyên hữu ích dành cho bất cứ ai tham gia kinh doanh trực tuyến trong khi triển khai các trang web thương mại điện tử.



1. Đừng ép khách hàng suy nghĩ



Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử khi xây dựng trang web của mình cần lưu ý là trang web của họ có sự điều hướng mang tính trực giác và cấu trúc tiện lợi, không chỉ đóng vai trò giúp khách hàng nhìn và cảm nhận.



Khi vào các trang web này, khách hàng phải đoán biết một cách chính xác rằng những “nút bấm” hay đường dẫn hoạt động thế nào trước khi họ nhắp chuột.



Doanh nghiệp nên đặt trên thanh công cụ điều hướng chức năng tìm kiếm, tốt nhất là ở phía trên bên tay phải, nơi mà khách hàng dễ nhìn nhất. Chức năng tìm kiếm này không nên giống một “nút bấm” mà nên giống với hộp thoại để khách hàng nhập từ khóa vào. Như vậy, khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian do không phải vào một trang tìm kiếm khác để thực hiện công việc tìm kiếm.



Chức năng tìm kiếm này cần tự động kiểm tra lỗi chính tả của từ khóa và khi đã phát hiện ra lỗi, nó phải tự động đề xuất sửa lỗi. Nếu như từ khóa mà khách hàng nhập vào quá chung chung, thì hệ thống phải tự động đề xuất khách hàng lựa chọn từ khóa khác.



Chẳng hạn, hệ thống có thể hiển thị câu thoại để khách hàng biết như: “Ông/bà đã nhập từ khóa “camera”. Nếu muốn, ông/bà có thể làm rõ từ khóa hơn, ví dụ như “camera của Canon” hay “camera của Nikon””.



2. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm



Doanh nghiệp nên đưa bộ “điều hướng chi tiết” vào các trang catalogue trực tuyến. Như vậy, bộ điều hướng sẽ giúp khách hàng nhận biết trang web mà họ đang xem hiện đang nằm ở vị trí nào, đồng thời giúp khách hàng nhanh chóng đi vào phần mà họ tìm kiếm. Ví dụ như, khi khách hàng tìm mua một chiếc đèn để bàn và họ vào trang web thương mại để mua.



Để giúp khách hàng nhanh chóng tìm đến khu vực bán đèn bàn, trang web của doanh nghiệp nên sử dụng bộ điều hướng “Online catalogue (Catalogue hàng trực tuyến) > Home Furnishings (Đồ dùng gia đình) > Lighting (Thiết bị ánh sáng) > Table Lamps (Đèn bàn)”. Làm như vậy, doanh nghiệp sẽ giúp khách hàng thuận tiện trong việc tìm kiếm hàng mà họ muốn mua.



3. Đơn giản hóa thao tác của khách hàng



Doanh nghiệp nên lưu ý khi trình bày trang web sao cho vừa với trang màn hình, tránh kéo dài trang màn hình. Doanh nghiệp nên để những món đồ quan trọng nhất của mình lên trên trang màn hình. Đơn giản hóa các thao tác của khách hàng, giúp họ thuận tiện trong việc xác định vị trí hàng hóa mà họ cần mua cũng như các thủ tục mua bán.



Hình thức đặt hàng One-Click (Chỉ cần một lần nhắp chuột) của Amazon.com, là ví dụ điển hình để doanh nghiệp tham khảo.



4. Bố trí trang Web gọn nhẹ



Doanh nghiệp nên bố trí trang web một cách gọn nhẹ bằng cách tối ưu hóa hình ảnh, sử dụng các file có kích thước nhỏ và nhanh chóng hiển thị khi nạp trang, loại bỏ những file HTML và đồ họa không cần thiết. Lý tưởng nhất là chỉ mất 10 giây để khách hàgn nạp toàn bộ trang web.



5. Sử dụng mã nguồn mở



Doanh nghiệp không nên phung phí ngân sách vào những phần mềm có giấy phép đắt tiền không cần thiết, khi mà họ có thể sử dụng các giải pháp mã nguồn mở. Phần mềm mã nguồn mở cho phép khách hàng tự điều chỉnh, đồng thời mang lại sự lựa chọn ổn định và ít tốn kém hơn so với phần mềm độc quyền.



6. Nghiên cứu sát hành vi khách hàng



Doanh nghiệp cần theo dõi xem khách hàng sử dụng trang web của mình như thế nào và tìm hiểu xem yếu tố nào hấp dẫn họ. Doanh nghiệp nên phân tích những hành vi của khách hàng, chẳng hạn như phần nào làm cho họ thấy nhàm chán nhất và họ hay tìm kiếm gì nhất. Doanh nghiệp nên yêu cầu khách hàng của mình điền vào phiếu điều tra sau khi họ đã mua hàng và tổ chức những cuộc thi tập thể dành cho những khách hàng thường xuyên.



7. Thỏa mãn khách hàng



Phục vụ khách hàng cũng như sự sống còn của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào việc doanh nghiệp thỏa mãn khách hàng của mình thế nào. Doanh nghiệp nên có người chuyên phụ trách việc trả lời thư điện tử.



Quan trọng, doanh nghiệp phải làm đúng những gì đã cam kết với khách hàng. Doanh nghiệp nên lấy “Hứa ít làm nhiều” làm phương châm kinh doanh. Chẳng hạn như, khi doanh nghiệp đã hứa với khách hàng sẽ giao hàng trong vòng 3 ngày, họ không được phép để khách hàng phải chờ 5 đến 10 ngày.



Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có máy chủ hỗ trợ để có thể quản lý tốt khi số lượng người truy cập vào trang web tăng lên.



8. Sử dụng các công cụ tìm kiếm



Doanh nghiệp cần làm cho khách hàng biết đến mỗi sản phẩm hay trang catalogue của họ với các bộ từ khóa. Vì trang web của doanh nghiệp không thể truyền tải mọi thứ cho tất cả mọi người, nên doanh nghiệp cần sử dụng các trang web khác làm chức năng này như một lực lượng bán hàng ảo.



Chẳng hạn như, trang web của SmokeCDs.com, khách hàng của Netconcept, nằm trong “top ten” trong trang web của Google khi khách hàng nhập từ khóa buy CDs (“Mua đĩa CD”) đồng thời các trang nhóm nhạc cũng sắp xếp gọn gàng các dòng nhạc như là “Trick Daddy” hay Album như “The Matrix Soundtrack”.



Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ không thể làm cho các trang trong trang web của họ được biết đến được nếu các trang này không có trong các công cụ tìm kiếm. Hiện nay, một số doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ đã gặp phải vấn đề làm sao để tất cả các catalogue của họ hiển thị trên toàn bộ các công cụ tìm kiếm có tiếng.



Trong khi SmokeCDs.com có hàng chục nghìn trang sản phẩm trên Google, thì một công ty bản lẻ đĩa nhạc khác của Mỹ là Sam Goody.com chỉ có một vài trăm. Doanh nghiệp có thể kiểm tra xem có bao nhiêu trang trên trang tìm kiếm lớn bằng cách sử dụng công cụ miễn phí tại địa chỉ www.netconcept.com/urlcheck...



9. Bán sản phẩm của doanh nghiệp



Bán hàng trên web có nghĩa là doanh nghiệp phải biết sử dụng một cách linh hoạt, thông minh không gian ảo. Chọn một số sản phẩm đặc trưng cho lên trang web rồi quay vòng các sản phẩm đó. Doanh nghiệp nên xem xét phương án “Danh mục mặt hàng top ten” (tương tự như trường hợp 10 sản phẩm doanh nghiệp muốn bán nhất).



Tâm lý chung của khách hàng là họ thường chuộng những mặt hàng được liệt vào hàng “Top ten”.



Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên đưa ra những gợi ý hoặc những ý kiến của khách hàng trên các sản phẩm. Quan trọng là doanh nghiệp cần phải tăng cường sử dụng biện pháp đưa ra những lời chào hàng đặc biệt với khoảng thời gian nhất định với số lượng nhất định như một biện pháp để tăng doanh số.



10. Thực hiện đủ chức năng



Ban đầu, khách hàng có thể cho các món hàng vào giỏ hàng. Nhưng họ cũng có thể bỏ giỏ hàng lại và sau vài ngày mới trở lại và giỏ hàng vẫn còn nguyên. Doanh nghiệp nên tạo điều kiện để khách hàng có thể khởi tạo các tài khoản để dễ dàng lặp lại việc đặt và kiểm tra đơn đặt hàng.



Nếu đó là một trang web dành cho tiêu dùng, thì doanh nghiệp nên giúp khách hàng mua và nhận phiếu quà tặng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải đảm bảo cho việc đặt hàng trực tuyến bằng cách cài đặt chứng chỉ máy chủ bảo mật 128 bit.



Cuối cùng, doanh nghiệp nên có giao diện quản lý cho phép thêm, bớt hoặc nâng cấp nội dung của trang web.


Nguồn:Doanhnhan360.com



Để doanh nghiệp nhỏ thắng thế khi kinh tế khó khăn



Bị che lấp bởi tình trạng thấp nghiệp tràn lan và các cuộc khủng hoảng tài chính của các công ty trong nhóm Fortune 500, chúng ta không nhận ra sự chuyển đổi tuy nhỏ nhưng rất quan trọng: vai trò ngày càng cao của các doanh nghiệp nhỏ trong sự hồi phục của nền kinh tế.





Các doanh nghiệp nhỏ tạo việc làm cho hơn nửa lực lượng lao động của khối tư nhân. Và môn lịch sử cũng như môn quản trị doanh nghiệp nhỏ đã nhắc nhở chúng ta rằng khả năng của doanh nghiệp nhỏ có thể tạo ra công ăn việc làm là một nhân tố chính trong bất kỳ sự thịnh vượng hồi sinh nào.



Các phương tiện thông tin đại chúng liên tục thông tin rằng các doanh nghiệp nhỏ đang sắp phá sản, nhưng với mỗi sự thất bại của các doanh nghiệp nhỏ, thì có hàng chục doanh nghiệp khác thực sự đang phất lên bất chấp khủng hoảng kinh tế.



Các doanh nghiệp nhỏ này đang làm gì để tạo ra sự vượt trội trong nền kinh tế? Hãy xem xét những phương pháp chiến lược sau:



Hành động. Đây là vũ khí tốt nhất của các doanh nhân. Ngày nay mọi điều xảy ra nhanh chóng và tính thanh khoản hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ - bạn không cần phải phân loại các lớp của bộ máy quan liêu mà có thể làm chậm lại, hoặc thậm chí phá hỏng các công ty lớn hơn. Các doanh nghiệp nhỏ có thể thích ứng với mọi tình huống một cách nhanh chóng. Bởi vì mọi doanh nhân thành đạt đều biết rằng, tốc độ tạo nên sự thành công.



Kế hoạch là rất quan trọng. Kế hoạch không phải là tất cả. Sẽ rất tốt nếu có một chiến lược luôn sẵn sàng, nhưng đừng chịu thua vì không có khả năng phân tích. Với mọi thứ hầu như thay đổi hàng giờ, liệu bạn có thể dành thời gian để theo đuổi một kế hoạch bị thổi phồng mà hầu như đã lỗi thời sau khi nó được hoàn thành? Hãy dành thời gian của bạn để khám phá thực tế và phản ứng kịp thời.



Đầu tư có sáng tạo. Có khá nhiều nguồn lực sẵn có cho các doanh nghiệp nhỏ cũng như nhiều phương thức sáng tạo có thể có ảnh hưởng tích cực đến điểm mấu chốt của bạn. Diana Ransom đã đề cập đến một số thủ thuật này trong cột báo "Smart Money" của tạp chí Wall Street Journal. Bà đề xuất đưa ra chính sách giá cả định trước, sử dụng nguồn tài chính của người bán, và chuyển đổi từ cách tính chi phí cố định sang chi phí biến đổi. Bà cũng đề xuất các mục giảm giá có chọn lọc.



Mặc dù vậy, tôi đã tìm hiểu kỹ khi nói rằng chính sách giảm giá có thể gây hại cho thương hiệu của chính bạn, từ khoá ở đây là có chọn lọc. Hoàn cảnh cũng tính đến. Nếu công việc kinh doanh của bạn được đặt trong một cộng đồng mà đặc biệt bị ảnh hưởng về kinh tế (như là thành phố Detroit) hoặc khán giả nhằm vào của bạn phản ứng với mức giảm giá, thì bằng mọi cách hãy thử cách thức này.



Hãy cho mọi người thứ mà họ mong muốn. Mọi người ở nhà nhiều hơn và họ tìm kiếm giá trị. Các công ty thông minh đang tập trung vào chính điều đó. Chẳng hạn, công ty Skinner Baking đang trao cho mọi người những thứ mà họ mong muốn: thức ăn bình dân trong thời buổi khó khăn. Và tôi sẵn sàng cá cược rằng doanh số của sản phẩm chăn có ống tay bị nói xấu nhiều của công ty Snuggie sẽ không tỏ ra quá tệ vào mùa đông này, đó là thứ mà mọi người cần đến khi ở nhà và giảm dùng máy điều hoà nhiệt độ.



Thử nghiệm, kiểm định, cải tiến, lặp lại. Các doanh nghiệp nhỏ ngày nay có những lợi thế khác nữa mà họ đã không có trong các cuộc khủng hoảng trong quá khứ - các phương tiện truyền thông xã hội và các công cụ marketing trực tuyến phức tạp. Bạn có thể kiểm định thành công của chiến lược marketing và quảng cáo của mình và thực hiện các nghiên cứu thị trường mà bạn cần theo thời gian thực chỉ cần với một cú nhấp chuột.



Bạn có thể tiếp cận khách hàng trực tuyến theo nhiều cách với chi phí thấp. Và bạn có thể tối ưu hoá trang web của bạn do đó khách hàng có thể tìm đến bạn một cách nhanh chóng và dễ dàng. Tương tự, việc sử dụng có hiệu quả khả năng của thương mại điện tử có thể giúp bạn không bị lộ diện quá nhiều.


__________________________________


Jeff Stibel là một doanh nhân và một nhà khoa học tài giỏi. Ông nghiên cứu về khoa học kinh doanh và trí tuệ tại ĐH MIT Sloan & Brown, ở đó ông là một viện sĩ về khoa học trí tuệ và hành vi. Stibel là tác giả của một số bài viết khoa học và kinh doanh về nhiều đề tài khác nhau và là tác giả của sáng chế của bằng độc quyền sáng chế Hoa Kỳ về các giao diện công cụ tra cứu. Hiện ông là Chủ tịch của Web.com (NASDAQ: WWWW) và làm việc tại Ban học viện ĐH Tufts & Brown, đồng thời là thành viên trong Ban giám đốc của một số công ty nhà nước và công ty tư nhân.


Nguồn: 
Tuần Việt Nam