Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Tiếp thị số ở Việt Nam đang chậm chân?



Khi thế giới càng trở nên “phẳng” và công nghệ hóa cao thì tiếp thị số sẽ trở thành một xu hướng truyền thông mới.


Khi thế giới càng trở nên “phẳng” và công nghệ hóa cao thì tiếp thị số sẽ trở thành một xu hướng truyền thông mới, chủ đạo và tất yếu.





Trong buổi hội thảo “Tiếp thị số- Xu hướng truyền thông mới” tại Hà Nội cuối tuần trước, giáo sư Ian Fenwick – chuyên gia tiếp thị số, một trong hai tác giả của cuốn sách best seller về tiếp thị số “Tiếp thị số - Hướng dẫn thiết yếu cho truyền thông mới & Digital Marketing” đã nói như vậy.


Ông nói, tiếp thị số đang là cơ hội lớn, nó rất rẻ, thế nhưng người làm tiếp thị của Việt Nam lại đang chậm chân hơn so với nhu cầu thị trường cần có.


Tiềm năng lớn



Theo giáo sự Ian Fenwick, các doanh nghiệp Việt Nam đang có điều kiện và tiềm năng để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của mình qua kênh truyền thông mới là tiếp thị số.


Vì, số người sử dụng Internet của Việt Nam đã lên hơn 20 triệu, chiếm gần một phần tư dân số cả nước. Và, số người sử dụng điện thoại di động- kênh tiếp cận mới của Internet và viễn thông còn lớn hơn gấp nhiều lần.


Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng quảng cáo, tiếp thị qua kênh truyền thông truyền thống là ti vi và báo giấy, trong khi chi phí quảng cáo qua các kênh này cực đắt, lên tới hàng trăm triệu hoặc cả tỉ đồng để xây dựng hình ảnh quảng cáo, tiếp thị.


Mặc dù hiện nhiều doanh nghiệp cũng đang có xu hướng mở các kênh tiếp thị số, chủ yếu là qua website của doanh nghiệp nhưng hình thức, nội dung thể hiện còn hạn chế, chưa hấp dẫn và chưa tạo ra được nét độc đáo riêng, hiệu quả tiếp thị còn thấp.


Các kênh tiếp thị số như Internet, blog, mạng xã hội, qua điện thoại di động dù chi phí rẻ hơn cả trăm lần so với quảng cáo truyền thống, có “độ phủ” rất rộng và hiệu quả cao nhưng vẫn chưa được doanh nghiêp đầu tư phát triển. “Điều đó do khả năng nhận biết của doanh nghiệp về hiệu quả đầu tư cho kênh tiếp thị”, ông Ian Fenwick phân tích.


Ông Ian Fenwick kể, ở Trung Quốc có mạng xã hội được sử dụng trên điện thoại di động, trên đó người ta có thể đưa mọi sản phẩm lên và người tiêu dùng chỉ cần click vào đó là biết được thông tin sản phẩm, ở mọi lúc, mọi nơi.


Thực tế, doanh nghiệp chỉ cần đầu tư một hai chục triệu đồng là có thể xây dựng được những hình ảnh quảng cáo, tiếp thị cho mình qua các kênh truyền thông số. Hơn nữa, khi tiếp thị, quảng cáo trên các kênh truyền thông số, doanh nghiệp sẽ đo lường được tính hiệu quả của quảng cáo, biết được có bao nhiêu người tham gia vào quảng cáo thông qua lượng người vào xem.


Bà Lê Thúy Hạnh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tiếp Thị Số (Digimarketing.vn) nhận định, do Việt Nam có tỷ lệ dân số trẻ, số người dùng Internet, sử dụng các thiết bị đầu cuối và tham gia các mạng xã hội đã tăng trong rất nhanh trong một hai năm lại đây, vì thế trong ba đến năm năm tới sẽ là cơ hội lớn để phát triển quảng cáo trực tuyến và tiếp thị số.


Sự khác biệt của tiếp thị số



Sự khác biệt giữa tiếp thị số và các kênh tiếp thị truyền thống là có sự tương tác của khách hàng. Cụ thể, tiếp thị qua kênh này, khách hàng có thể phản hồi lại về sản phẩm, về chất lượng, giá cả, hình thức, nhu cầu… thông qua đó người làm tiếp thị, doanh nghiệp sẽ có đầy đủ thông tin của khách hàng và biết được khách hàng cần gì, muốn gì về sản phẩm của mình.


Ưu điểm lớn nhất của phương thức marketing số là ứng dụng công nghệ hiện đại để tiến hành tiếp thị, chính vì thế có thể giúp doanh nghiệp thực hiện những chiến dịch marketing trên diện rộng đến hàng triệu người dùng.


Theo giáo sư Ian Fenwick, những lời nhận xét, đánh giá trên mạng về sản phẩm nào đó là động lực rất lớn dẫn đến quyết định đến việc mua bán ngay trên mạng, vì theo thống kê 86% comment đọc nhận xét trước khi mua sản phẩm và 90% là tin tưởng vào những lời nhận xét, đánh giá về sản phẩm đó.


Theo ông, hiện tại cũng như trong tương lai, những phương thức tiếp thị số mà doanh nghiệp có thể ứng dụng và đẩy mạnh phát triển là email marketing (tiếp thị qua thư điện tử), web marketing (qua website của doanh nghiệp), blog marketing (qua blog cá nhân), SMS marketing (qua tin nhắn), mobile marketing (qua điện thoại di động), social net-working marketing (mạng xã hội)...


Mặc dù vậy quảng cáo có thành công hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như sức lan tỏa, ấn tượng mà những quảng cáo đó đem lại, đặc biệt là tùy thuộc vào mục đích của từng chiến dịch mà có những cách đánh giá khác nhau, trong đó mục tiêu của doanh nghiệp là muốn tăng độ nhận diện, tăng độ phủ, tăng doanh số hay lợi nhuận… cũng là yếu tố quyết định.



Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2009

Google và chiến lược tăng tốc lướt Web



2009 là năm “tăng tốc” của Google với việc ra mắt một loạt công cụ và sản phẩm nhằm thực hiện tiêu chí này. Các con bài chiến lược như trình duyệt Chrome, hệ điều hành Chrome OS và ngôn ngữ lập trình GO đều hướng tới một cái chung: cải thiện tốc độ lướt Web.





Những sáng kiến trên xét về quy mô và tính chất đều rất lớn. Chúng bao gồm các công cụ tối ưu cho webmaster để cải thiện hiệu suất của website; cải thiện tốc độ duyệt web nói chung; và cải tiến giao thức Internet đang trở nên già cỗi. Đồng thời, Google cũng đẩy mạnh tiến trình vận động hành lang để chính phủ các nước tiến hành nâng cấp hệ thống mạng băng rộng.



Tăng tốc lướt Web



Google tin rằng một mạng Internet nhanh hơn sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người, giúp nâng cao tỉ lệ sử dụng mạng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. “Điều này sẽ tốt cho tất cả chúng ta. Khi mạng Internet nhanh hơn, chúng tôi cũng được hưởng lợi bởi mọi người sử dụng mạng nhiều hơn, tìm kiếm nhiều hơn, và điều đó sẽ mang lại cho chúng tôi doanh thu cao hơn”, Urs Hölzle, Phó Chủ tịch bộ phận khai thác của Google, bày tỏ.



Thoạt nhìn, tất cả những vấn đề Google đưa ra đều rất hợp lý. Khó ai có thể từ chối những sáng kiến có ích, miễn phí, và có thể triển khai một cách dễ dàng. Thêm vào đó, tiềm năng của Web vẫn còn rất lớn, còn rất nhiều cơ hội, và Google có đủ nguồn lực, tài lực để vượt lên và có thể khắc phục được các trở ngại. “Google có thể phát triển tất cả những dự án này theo cách chúng có tầm quan trọng chiến lược. Google có những đặc điểm khác biệt mà những công ty khác không có. Họ đã và đang duy trì một mô hình kinh doanh thành công, và tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng Google có đủ khả năng thực hiện điều đó”, nhận định của Sheri McLeish, nhà phân tích chiến lược thuộc tổ chức Forrester Research.



Hiện tại, Google đang tập trung đẩy mạnh các sáng kiến cải thiện tốc độ lướt web; trực tiếp tăng cường nguồn lực và ảnh hưởng đối với cách thức dùng web của cá nhân và tổ chức. Chẳng hạn như đầu tháng 12 vừa rồi, Google đã triển khai một hệ thống mới để xử lý các truy vấn DNS (hệ thống tên miền). Google nói rằng sản phẩm của hãng này giúp cải thiện các thuật toán xử lý DNS hiện tại theo hướng nhanh hơn, hiệu quả hơn và an toàn hơn.



“Google đang đặt mình vào vị thế của kẻ dẫn đầu trong việc định hình tương lại phát triển của Web. Từ góc độ kinh doanh chiến lược thì đây là một hướng đi thông minh bởi rõ ràng chúng đều rất có ích cho quá trình cải tổ Internet hiện nay”, phân tích của chuyên gia Hadley Reynolds thuộc IDC.



Lo ngại độc quyền



Tuy nhiên, Hadley Reynolds cũng phản ánh sự lo ngại rằng khi tất cả những sáng kiến trên được thực hiện thành công thì vai trò độc quyền của Google sẽ càng trở nên sâu rộng hơn. Điều này cũng giống như vai trò của Microsoft trong thị trường hệ điều hành PC trước đây và hiện nay. Trong nhiều năm qua, Microsoft đã sử dụng tầm ảnh hưởng của mình để tạo nên một thị trường hệ điều hành PC gần như là độc quyền, cả với người dùng cá nhân và doanh nghiệp.



Lo ngại trên không phải là không có cơ sở bởi ở giai đoạn hiện tại, chưa có một chủ thể nào có nền tảng tương tự để cạnh tranh với Google trên môi trường Web. Trong khi đó, có lẽ ý thức được các lo ngại về quyền riêng tư nên trong một loạt các sản phẩm và sáng kiến mới, Google đã công khai rõ ràng và rành mạch chính sách thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu người dùng. Bởi lẽ, một khi người dùng không còn tin tưởng vào sản phẩm của mình, thì tất nhiên Google sẽ chẳng có lý do nào để tiếp tục duy trì những dịch vụ đó.



Chẳng hạn với hệ thống xử lý tên miền Public DNS, Google cam kết rằng chỉ lưu lại địa chỉ IP của người dùng cuối không quá 48 tiếng, và sẽ lưu dữ liệu ISP và địa điểm của người dùng không quá 2 tuần. Google cũng hứa sẽ không sử dụng dữ liệu Public DNS có được cho những dịch vụ khác của hãng này. Tất nhiên, đây chỉ là cam kết và người dùng hy vọng Google sẽ tuân thủ điều đó, đồng thời cũng hy vọng sẽ không có vụ mất mát và rò rỉ dữ liệu cá nhân nào liên quan tới các dịch vụ này của Google xảy ra.



Họ “Hứa”



Một lo ngại khác của đa số người dùng là Google thường kéo dài thời gian ra mắt sản phẩm chính thức sau khi đã công bố bản mẫu. Điều này tạo ra tâm lý chờ đợi quá lâu cho người dùng, khiến họ mất kiên nhẫn với sản phẩm của Google. Theo ước tính của Hölzle, Google có tới 25 dự án tăng tốc kiểu này với nhiều mức độ hoàn thành khác nhau. Túm lại, “kiểu” của Google là thường tuyên bố dự án từ rất sớm, rồi để cho người dùng chờ đợi chán chê, mỏi cổ rồi mới hoàn thiện sản phẩm.



Cũng theo Hölzle, Google coi những nỗ lực tăng tốc của mình động lực kinh doanh chính. Điều này không chỉ thể hiện trong chiến lược phát triển của hãng, mà còn được thể hiện qua những cam kết của chính lãnh đạo Google. Hãng này có riêng một nhóm làm việc chuyên tập trung cho các sản phẩm tăng tốc với thành viên thuộc nhiều nhóm sản phẩm khác.



Hölzle cũng chỉ ra rằng những dự án tăng tốc của Google trên thực tế không phải là mới. Trong nhiều năm qua, Google từng nhiều lần nhấn mạnh tới tầm ảnh hưởng của tốc độ, và trong năm nay đã ra mắt nhiều dự án tuy trên thực tế có khi chúng bắt nguồn từ năm trước hoặc nhiều năm trước đó.



Các dự án tham vọng



Một trong những sáng kiến tăng tốc đầy tham vọng của Google là SPDY (phát âm “speedy” – có nghĩ là “tốc độ”), với mục tiêu cải tiến giao thức http cho truyền tải nội dung Web. Mặc dù vẫn trong giai đoạn thử nghiệm nhưng theo đánh giá với tình hình phát triển băng rộng nhanh như hiện nay, SPDY có thể là một giải pháp rất sáng giá.



Cũng trong lĩnh vực giao thức Internet, Google cũng hỗ trợ HTML 5.0 và đồng thời tin rằng những cải tiến sâu rộng sẽ giúp thu hẹp khoảng cách về hiệu suất giữa ứng dụng Web và ứng dụng PC. Thông thường những thay đổi trong lĩnh vực giao thức Internet và chuẩn công nghiệp đòi hỏi rất nhiều công sức, sự đồng thuận và quan hệ hợp tác, nhất là giữa các đối thủ cạnh tranh với nhau. Tuy nhiên, Hölzle tin rằng Google sẽ thành công với các đề xuất trên, đặc biệt là SPDY bởi tiềm năng của nó là rất lớn.



Trọng tâm lớn khác của Google là lĩnh vực thiết kế web. Google đã cố đưa ra những nguyên tăng thiết kế web cải tiến và ra mắt công cụ Page Speed dành cho webmaster. Công cụ này giúp phân tích thiết kế của site, và dựa trên nhiều tiêu chí nó sẽ đưa ra các đề xuất nhằm cải tiến trang web một cách tốt hơn.



Cuối cùng là một số sản phẩm “đinh” của Google có thể làm thay đổi bộ mặt phát triển chung của ngành công nghệ hiện nay, đó là trình duyệt Chrome, hệ điều hành Chrome OS và ngôn ngữ lập trình Go. Tất cả đều được giới thiệu trong năm nay, cũng với trọng tâm “tăng tốc”.


Theo Vnmedia



Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Những bộ phim hay cho mùa Giáng sinh



'Home Alone', 'It's A Wonderful Life' hay 'Love Actually' luôn là những bộ phim được yêu thích vào dịp lễ Noel hàng năm. Dưới đây là 10 tác phẩm điện ảnh đặc sắc có đề tài về Giáng sinh.





1. "It's A Wonderful Life" (1946)



Không chỉ đứng trong danh sách 100 bộ phim vĩ đại nhất của mọi thời đại, It's A Wonderful Life còn được coi là sự lựa chọn hoàn hảo dành cho ngày lễ Giáng sinh. Được chuyển thể từ truyện ngắn The Greatest Gift của tác giả Philip Van Doren Stern, bộ phim kể câu chuyện về một thương gia giàu có sống tại thị trấn giả tưởng Bedford Falls. Luôn hy sinh lợi ích của bản thân để giúp đỡ những người xung quanh, vị thương gia này được mọi người vô cùng yêu mến và kính trọng.





"It's A Wonderful Life" - bộ phim kinh điển dịp Giáng sinh.


Nhưng đến Giáng sinh nọ, do gặp phải một khó khăn tưởng như không thể vượt qua được trong cuộc sống mà ông đã nghĩ tới cái chết. Không để người tốt phải chịu đau khổ, Chúa trời đã cử một thiên thần xuống cứu giúp vị thương gia này và giúp ông nhận ra được cuộc sống vẫn còn tươi đẹp đến nhường nào. It's A Wonderful Life đã làm rung động trái tim của hàng triệu người xem trên toàn thế giới trong suốt hơn 60 năm qua.


2. "A Christmas Story" (1983)



Chuyện phim diễn ra vào khoảng cuối thập niên 40 tại Indiana, Mỹ với nhân vật chính là cậu bé 9 tuổi - Ralphie Parker. Trong khi những đứa trẻ khác đều mong muốn một món quà xinh xắn, đẹp đẽ thì Ralphie lại chỉ muốn một thứ, đó là khẩu súng Red Ryder BB. Và mong ước về món quà Giáng sinh ấy đã ám ảnh cậu bé 9 tuổi, dẫn dắt người xem bước vào một cuộc phiêu lưu đầy kỳ thú qua từng mảnh đời của nhiều tuyến nhân vật. A Christmas Story đã được các tạp chí điện ảnh danh tiếng thế giới xếp ở vị trí số 1 trong danh sách những bộ phim hay nhất về Giáng sinh. Hơn 90 phút của phim là khoảng thời gian mà khán giả được hòa mình vào không khí vui nhộn, đầy hài hước và ấm áp của ngày lễ Noel.



3. "Home Alone" (1990)



Là một tác phẩm điện ảnh có thể nói là kinh điển nhất về lễ Giáng sinh, Home Alone đã chinh phục khán giả trên khắp thế giới qua nhiều thế hệ, đặc biệt là thiếu nhi. Câu chuyện về cậu bé Kevin nghịch ngợm, lém lỉnh khi ở nhà một mình trong đêm Noel, phải đối phó với những tên trộm nguy hiểm đem về cho hãng Fox doanh thu hơn 500 triệu USD trên toàn thế giới và lọt vào danh sách 10 bộ phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh Hollywood. Người thủ vai cậu bé Kevin trong bộ phim này là nam diễn viên Macaulay Culkin ngay sau đó đã vụt sáng trở thành ngôi sao nhí nổi tiếng nhất thế giới lúc bấy giờ.


Hai năm sau đó, phần 2 của Home Alone tiếp tục ra mắt khán giả và cũng thu về gần 400 triệu USD. Home Alone có sức hút mãnh liệt, không chỉ trẻ em mà ngay cả người lớn cũng bị mê hoặc bởi những trò chơi tinh quái mà cậu bé Kevin dành cho các tên trộm. Đây là một bộ phim không thể thiếu đối với nhiều gia đình vào mỗi dịp lễ Giáng sinh.



4. "The Nightmare Before Christmas" (1993)



Cũng có đề tài về mùa Giáng sinh nhưng bộ phim hoạt hình The Nightmare Before Christmas lại mang phong cách rùng rợn, ma quái. Mỗi lễ hội có một thế giới của riêng nó. Trong thế giới của ngày lễ Halloween, những con ma luôn thích ca hát, nhảy múa và không bao giờ sợ ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, Jack Skellington - Vua bí ngô, đã chán ngấy việc mỗi năm chỉ có một ngày Halloween và sau đó thì phải chờ cả khoảng thời gian dài cho tới lần kế tiếp. Một ngày tình cờ đi lạc vào thị trấn Christmas, Jack ngay lập tức đã bị hấp dẫn bởi thế giới tràn ngập sắc màu của nơi đây. Khi trở về, cậu đã cố thuyết phục cả thị trấn Halloween từ giờ sẽ tổ chức thêm cả lễ Giáng sinh theo phong cách Halloween. Nhưng liệu trong một thế giới chỉ toàn ma quỷ, lễ Giáng sinh có trở thành cơn ác mộng? The Nightmare Before Christmas do đạo diễn tài ba Tim Burton thực hiện vào năm 1993 với hiệu ứng làm phim stop motion.


5. "The Santa Clause" (1994)


Người hâm mộ điện ảnh dường như đã quá quen thuộc với bộ phim nổi tiếng về ông già Noel có tên The Santa Clause được sản xuất năm 1994. Từ khi chia tay vợ, Scott rất hiếm khi được gặp con trai Charlie và anh luôn khao khát hai cha con có thể được ở bên nhau vào dịp Noel. Charlie thì tỏ ra không được vui vẻ và muốn ở với mẹ hơn, bản thân cậu bé cũng không hề tin vào truyền thuyết ông già Noel như bố vẫn kể. Vào đúng đêm Giáng sinh, Scott bị đánh thức bởi một tiếng động lạ trên mái nhà và khi ra ngoài thì anh đã trông thấy bóng dáng của một người như là ông già Noel. Người đó biến mất rất nhanh và bỏ lại một tấm thẻ nói rằng Scott được lựa chọn để trở thành một ông già Noel thực sự.




Tim Allen trong vai Ông già Noel.


The Santa Clause cho tới nay đã thực hiện được 3 phần, tập phim mới nhất có tên The Escape Clause được phát hành vào năm 2006. "Ông già Noel" cũng là vai diễn để đời của nam diễn viên người Anh Tim Allen.


6. "Little Women" (1994)


Dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Louisa May Alcott, Little Women là câu chuyện về gia đình March ở bang Massachusette, Mỹ trong thời kỳ nội chiến. Người cha ra chiến trường, ở nhà chỉ còn người mẹ và 4 cô con gái với mỗi người một tính cách. Lần lượt những thay đổi và mâu thuẫn xảy ra trong gia đình March khiến các thành viên trở nên xa cách. Nhưng rồi sau bao biến cố, họ nhận ra một điều rằng gia đình luôn là nơi chốn bình yên và thân thương nhất của mỗi con người. Họ trở về quây quần bên nhau khi những bông hoa tuyết bắt đầu rơi báo hiệu một mùa Giáng sinh đang đến.




Người mẹ và 4 cô con gái quây quần trong dịp Giáng sinh.


Phim có sự tham gia của rất nhiều ngôi sao nữ nổi tiếng như Winona Ryder, Susan Sarandon, Kirsten Dunst hay Claire Danes. Little Women là một bộ phim gia đình nhẹ nhàng, giản dị, đem đến cho người xem cảm giác ấm áp và chút bùi ngùi như hương vị của ly rượu táo thơm nồng trong đêm Giáng sinh.


7. "Love Actually" (2003)


"Love actually is all around - tình yêu thực sự luôn ở quanh ta" - đó là thông điệp mà đạo diễn Richard Curtis đã chuyển tải vào trong bộ phim tình cảm lãng mạn Love Actually, với sự quy tụ của những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất nước Anh hiện nay như Keira Knightley, Hugh Grant, Emma Thompson, Colin Firth, Liam Neeson, Rowan Atkinson... Phim được xây dựng với nhiều tuyến nhân vật khác nhau và nhiều câu chuyện tình yêu khác nhau, nhưng có một điểm chung là tất cả đều diễn ra vào dịp lễ Giáng sinh.




Hugh Grant đóng vai Thủ tướng Anh trong "Love Actually".


Giáng sinh luôn được coi là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong năm, khi mọi người đều trở về nhà sau một năm bận rộn và tận hưởng những khoảnh khắc ấm cúng bên những người yêu thương. Tình yêu cũng giống như những món quà Giáng sinh với vẻ rực rỡ hào nhoáng ở lớp vỏ ngoài, nhưng khi mở ra bên trong, có người vui mừng nhưng cũng không ít người thất vọng với món quà mà mình nhận được. Hãy dám yêu và biết đối mặt với tình yêu, đó mới chính là "yêu thực sự".


8. "The Polar Express" (2004)



Khi còn nhỏ, hầu như ai cũng từng đôi lần tin vào ông già Noel và những món quà tuyệt vời mà ông đem tới cho trẻ em, để rồi khi lớn lên câu chuyện đó đã trở thành những ký ức tuổi thơ không thể nào quên đối với mỗi người. Bộ phim hoạt hình 3-D nổi tiếng The Polar Express đưa khán giả trở về với những kỷ niệm thân thuộc thời ấu thơ cùng truyền thuyết về ông già Noel.


Trong đêm Giáng sinh, một cậu bé bắt gặp chuyến tàu tốc hành tới Bắc Cực đi ngang qua nhà mình. Cậu bước lên tàu và bắt đầu một chuyến phiêu lưu đầy kỳ thú tới xứ sở của những điều kỳ diệu. The Polar Express đem đến cho người xem những hình ảnh tuyệt vời nhất bằng hiệu ứng đặc biệt Performance capture - kết hợp giữa diễn xuất của người thật với kỹ xảo máy tính và phải thực hiện trong suốt 3 năm. Với diễn xuất tuyệt vời của nam diễn viên Tom Hanks, The Polar Express nhận được 3 đề cử tại lễ trao giải Oscar vào năm 2005.



9. "The Holiday" (2006)


Từng được tạp chí Hollywood Reporter bình chọn là một trong 10 bộ phim hay nhất năm 2006, The Holiday rất được yêu thích vào mỗi dịp lễ Giáng sinh bởi phong cách lãng mạn và nhẹ nhàng. Chuyện phim xoay quanh hai phụ nữ trẻ là Amanda (Cameron Diaz thủ vai) - người Mỹ và Iris (Kate Winslet thủ vai) - người Anh.




Chàng trai người Anh (Jude Law) & cô gái người Mỹ (Cameron Diaz) tìm thấy tình yêu trong lễ Giáng sinh.


Trong dịp lễ Giáng sinh, cả hai tình cờ gặp nhau trên mạng khi đang đau khổ vì tình yêu. Để tìm kiếm sự thanh thản, hai người đã quyết định đổi nhà cho nhau vào dịp Noel: Amanda tới ngôi nhà nhỏ của Iris ở một vùng nông thôn nước Anh, còn Iris sẽ tới Los Angeles sống trong ngôi biệt thự tuyệt đẹp của Amanda. Biết bao chuyện mới mẻ đã xảy ra khi đổi nhà và rồi cả hai người phụ nữ đều tìm thấy tình yêu thực sự của mình trong kỳ nghỉ này.


The Holiday mang tới cho khán giả, đặc biệt là những người đang yêu cảm giác ngọt ngào và đầy lãng mạn trong đêm Giáng sinh.


10. "A Christmas Carol" (2009)



A Christmas Carol là một trong những bộ phim mới nhất có đề tài về mùa Giáng sinh vừa ra mắt khán giả VN từ tháng 11. Chuyển thể từ truyện ngắn nổi tiếng của đại văn hào Charles Dickens được hàng triệu người trên thế giới kể cho nhau nghe vào mỗi đêm Noel, A Christmas Carol do đạo diễn nổi tiếng Robert Zemeckis - người đã tạo nên The Polar Express vào năm 2004 thực hiện.



Giống như "người anh" của mình, A Christmas Carol cũng sử dụng kỹ thuật Performance capture - kết hợp giữa diễn xuất của người thật và kỹ xảo máy tính với công nghệ 3-D hiện đại, đưa người xem bước vào một thế giới cổ tích tuyệt đẹp.


Bên cạnh hiệu ứng hình ảnh tuyệt vời, phim còn mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc về cách đối nhân xử thế, về giá trị của cuộc sống. Đặc biệt là ở bộ phim này, khán giả còn có cơ hội được chứng kiến sự xuất hiện đầy bất ngờ của danh hài Jim Carrey với 8 tạo hình khác nhau.



Câu chuyện về tia nắng và tia laser



Trong các buổi hội thảo về thương hiệu, những chia sẻ xung quanh những câu hỏi phổ biến như nên bắt đầu xây dựng thương hiệu từ đâu, làm thế nào để có được một thương hiệu mạnh và phát triển bền vững dường như chưa giải đáp hết mối trăn trở của nhiều doanh nghiệp.





Tại một buổi họp mặt doanh nhân gần đây, người viết bài này đã gặp hai doanh nhân, anh A tuổi trạc 50 và anh B ở tuổi 30. Anh A chia sẻ là đã làm việc cật lực trong suốt hơn 20 năm qua và khá thành công trong nhiều lĩnh vực, từ sản xuất nước giải khát, bánh kẹo cho đến bất động sản và hiện làm hàng gia công xuất khẩu.


Khi hỏi đến nghề mà anh đam mê, lĩnh vực kinh doanh chính thì anh không trả lời mà chỉ nói rằng đã kiếm đủ tiền nuôi con cái ăn học và sắp nghỉ hưu. Đối với nhiều doanh nhân của thế hệ như anh, nắm bắt cơ hội và kiếm lợi nhuận là mục tiêu sống còn khi mà cuộc sống phải lo nhiều đến cái ăn, cái mặc cho gia đình và bản thân.


Doanh nhân B thì hào hứng kể rằng anh vừa mới thành lập một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm ở một số công ty nước ngoài. B khá tự tin và hy vọng một ngày nào đó trang web của mình sẽ trở thành một “alibaba” hay “baidu” của Việt Nam trong tương lai.


Đối với B, kinh doanh không đơn thuần chỉ để làm giàu mà còn là niềm say mê, dấn thân và chinh phục mục tiêu dài hạn. Đó là việc khao khát sở hữu một thương hiệu mạnh trong lĩnh vực mà mình đam mê.


Thương hiệu: Nên là tia nắng hay tia laser



Định hướng phát triển phổ biến của nhiều doanh nghiệp là trở thành những tổ chức kinh doanh “đa ngành, đa nghề và đa năng”. Điều này phản ánh tâm lý chung của nhiều doanh nghiệp nghiêng về phía tia nắng hơn là tia laser.


Bởi lẽ khác với tia laser chỉ phóng chiếu về một hướng duy nhất, tia nắng mặt trời thì chiếu đi khắp nơi nên có thể “chiếu trúng” nhiều khách hàng hơn, nếu không “trúng” chỗ này thì cũng “trúng” chỗ khác.


Thế nhưng thống kê cho thấy kết quả của việc kinh doanh dàn trải như thế làm thương hiệu của những công ty này thường chẳng mạnh ở ngành nào cả, nếu được gọi là mạnh thì đó chỉ là sự kế thừa tại một thời điểm trong thị trường chưa có sự cạnh tranh thực sự.



Trên thế giới, những thương hiệu hoạt động đa ngành như Mitsubishi, Yamaha của Nhật hay Daewoo của Hàn Quốc tuy được nhiều người biết đến nhưng chưa bao giờ được xếp vào danh sách những thương hiệu mạnh trên thế giới.
Điều tưởng chừng như nghịch lý nhưng thực tế là thương hiệu lại phát huy hiệu quả tối đa khi hoạt động theo cơ chế của một tia laser. Và nó cần “hấp thụ năng lượng” khác biệt và phù hợp để ghi dấu ấn sâu đậm vào tâm trí của người tiêu dùng, vốn dĩ là “một bộ nhớ” thường xuyên bị quá tải bởi việc tiếp xúc với quá nhiều thông điệp mỗi ngày, đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin.



Trong thời khủng hoảng, tính hiệu quả và bền vững của những thương hiệu hoạt động như tia laser càng được kiểm chứng qua sự thống trị của thương hiệu Intel trong lĩnh vực chip điện tử, sự dẫn đầu của Nokia trong lĩnh vực điện thoại di động, việc làm chủ công nghệ sản xuất dao cạo của Gillette hay sự chuyên sâu về chế tạo máy móc của Honda.


Nhiều cuộc nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng những thương hiệu áp dụng chiến lược kinh doanh dàn trải theo kiểu tia nắng mặt trời thường có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thấp hơn nhiều so với những thương hiệu hoạt động theo cách đơn giản của một tia laser.


Tư duy chiến lược ở đây nằm ở sự lựa chọn lĩnh vực hoạt động mà mình có thể làm tốt nhất và cam kết theo đuổi lâu dài. Nó cũng đồng nghĩa với sự hy sinh, bỏ qua các cơ hội kiếm tiền ngắn hạn khác để tập trung đầu tư sâu vào nghiên cứu và phát triển, hướng đến việc làm chủ công nghệ, tri thức hay bí quyết trong lĩnh vực kinh doanh của mình trong dài hạn.


Tia laser thương hiệu: Cần thời gian để “hấp thụ năng lượng”


Nếu như mục tiêu của các hoạt động quảng cáo, tiếp thị thường là ngắn hạn như doanh số, thị phần thì thương hiệu nhắm đến mục tiêu dài hạn là một dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người tiêu dùng.


Bởi lẽ để có thể lọt vào tâm tưởng, giành được sự lựa chọn và ưa chuộng của người tiêu dùng trước nhiều đối thủ khác, một thương hiệu cần có thời gian để tạo lập mối quan hệ cảm xúc với họ.


Nếu ví cuộc chơi thương hiệu là cự ly nào trong cuộc thi chạy thì nó chính là cuộc đua marathon đường dài. Để đến đích trước tiên, nó không chỉ cần có sức mạnh mà còn cần sự dẻo dai, bền bỉ của người chơi, nhiều khi chấp nhận “thua” ở giai đoạn đầu để rồi gia tăng tốc độ sau đó khi đã có đà.


Cụ thể, thương hiệu doanh nghiệp chỉ có thể trở thành một tia laser mạnh khi liên tục được “hấp thụ năng lượng” từ những sản phẩm, dịch vụ khác biệt so với các đối thủ trong ngành và phù hợp với nhận thức của khách hàng trong một thời gian dài.


Xây dựng thương hiệu là một vấn đề lớn và mang tầm chiến lược lâu dài. Do vậy, doanh nghiệp cần nghiên cứu thấu đáo trước khi bắt đầu làm thương hiệu. Nên bắt đầu từ đâu?




(1) Trước khi nghĩ đến việc làm gì để tạo nên sự khác biệt, cần phải xác định được cái nghề, lĩnh vực kinh doanh mà mình đam mê và cam kết theo đuổi trong dài hạn.


(2) Kế đến là nên hiểu mình là ai, có khả năng làm tốt nhất cái gì (lý do tồn tại) hơn là tuyên bố suông là sẽ trở thành “hàng đầu hay số một”.


(3) Việc nhận ra những giá trị cốt yếu hỗ trợ cho lý do tồn tại của doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng.


Giải quyết thấu đáo ba vấn đề cơ bản này là tiền đề để biết mình nên xuất phát từ đâu và sẽ đi hướng nào trong dài hạn. Sau cùng, một thương hiệu tiềm năng cần biết cách “dựng cờ” để quy tụ những con người có cùng hoài bão và động lực cống hiến.



Thứ Ba, 22 tháng 12, 2009

Đỉnh cao Mont Blanc



Đầu thế kỷ XX diễn ra cuộc gặp gỡ định mệnh giữa ba người đàn ông là thương gia Claus-Johannes Voss, kỹ sư August Eberstein và Giám đốc Ngân hàng Hamburg Alfred Nehemias. Không ai có thể nghĩ rằng cuộc gặp gỡ vào năm 1906 đó lại là điểm khởi đầu để tạo nên một thương hiệu nổi danh trên toàn thế giới: Montblanc.





Trước đó, Eberstein, Nehemias và Voss đã từng sáng tạo nên một chiếc bút máy hoàn toàn mới, lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới cho phép người dùng không cần phải chấm mực như trước bởi chiếc bút này được thiết kế với một ống bơm mực riêng. Sau nhiều lần trao đổi và làm việc với nhau, ba người đàn ông tâm huyết quyết định thành lập một công ty "liên doanh” như cách gọi ngày nay, với quyết tâm cùng chung sức, chung tài phát triển doanh nghiệp của mình trên toàn thế giới nhưng vẫn không quên đề phòng những rủi ro có thể phải đương đầu trên thương trường.


Khi "Đỏ và Đen" gặp "Đen và Trắng"


Công ty mới thành lập được đặt tại khu Schanzen tại Hamburg (Đức). Mong muốn của ba nhà sáng lập là đưa công ty trở thành nơi kinh doanh những sản phẩm bút viết đơn giản, dễ sử dụng, với số lượng hạn chế nhưng phải đạt được chất lượng tốt nhất. Và tên gọi ban đầu của công ty "Simplo Filler Pen Company" được bắt nguồn từ định hướng kinh doanh trên, trong đó từ"Simplo" được lấy từ chữ "simple" liên quan đến việc thiết kế cây bút máy mới bên trong có ống bơm mực đơn giản mà tiện lợi. Ba năm sau (1909), họ tung ra bộ sưu tập bút máy đầu tiên của mình mang tên Rouge et Noir (Đỏ và Đen). Được chế tạo từ nhựa ebonit đen và mang trên mình chiếc nắp màu đỏ, cái tên Rouge et Noir được lấy cảm hứng từ tiểu thuyết cùng tên của văn hào Pháp Stendhal. Lời quảng cáo cho cây bút "Bạn sẽ chẳng bao giờ làm rớt bất cứ giọt mực nào với bút máy Rouge et Noir" ngay lập tức đã thu hút sự chú ý của các khách hàng khi ấy, khiến họ an tâm khi gắn cây bút trên nắp túi sơ mi. Và rất nhanh sau đó, "Cô bé quàng khăn đỏ" đã trở thành một biệt danh đáng yêu mà công chúng dành tặng cho những cây bút trong bộ sưu tập thành công này.



Một năm sau, công ty cho ra mắt chiếc bút máy Montblanc mang màu đen cùng ngôi sao trắng trên nắp. Với kỹ thuật sản xuất hoàn hảo, Montblanc bắt đầu bước vào thời kỳ huy hoàng của mình. Hình ảnh "ngôi sao sáu cánh tròn màu trắng trên nắp gợi nhớ đến đỉnh Mont Blanc" - ngọn núi cao nhất tại châu Âu quanh năm tuyết phủ. Cái tên này đã được đăng ký thương hiệu gắn liền với tất cả các sản phẩm bút viết của công ty. Đó cũng là một biểu tượng hàm ý cho chiếc bút đẹp và chất lượng nhất châu Âu mà Montblanc muốn mang tới khách hàng. Cây bút Montblanc đạt được thành công vang dội tới mức tên gọi của công ty từ "Simplo Filler Pen Company” về sau đã được đổi thành "Montblanc Simplo GmbH”.


Một truyền thuyết ra đời


Thành công trong nước đã dần đưa Montblanc tiến ra thị trường nước ngoài. Thương hiệu Montblanc xuất hiện liên tiếp ở nhiều nước. Sau Berlin, Leipzig, Breslau, Hanovre và Breme, nhiều văn phòng đại diện mới của hãng đã có mặt tại Paris, London hay Barcelona. Các bộ sưu tập cũng ngày càng phát triển đa dạng. Ngoài bút máy, Montblanc còn giới thiệu với công chúng các sản phẩm như giấy viết thư, mực viết và bút chì kim, tất cả đều được trang trí hình ngôi sao sáu cánh, biểu tượng đặc trưng của nhà Montblanc.



Tới năm 1924 , sự ra đời của cây bút máy đặc biệt Meisterstuck đánh dấu một bước tiến lớn, một giai đoạn phát triển vượt bậc của Montblanc sau gần 20 năm thành lập. Ngòi bút được khắc số 4810 tượng trưng cho chiều cao của núi Mont Blanc theo kết quả đo đạc lúc bấy giờ. Với kiểu dáng thiết kế hoàn hảo và trường tồn với thời gian, cây bút Meisterstuck 149 đã trở thành huyền thoại của nhà Montblanc và là biểu tượng cho di sản văn hóa bút viết, giúp tên tuổi của công ty được cả thế giới biết đến với tư cách là hãng sản xuất bút máy cao cấp hàng đầu.



Những cây bút được bảo hành "suốt đời”


Cuối những năm 1920, thương hiệu Montblanc đã vươn xa đến 50 quốc gia trên thế giới. Cùng với đó, hãng đã tiến hành các chiến dịch quảng cáo đầy ấn tượng với những chiếc xe hơi được trang trí bằng những cây bút máy khổng lồ có gắn logo Montblanc trên đỉnh bút hay lần đầu tiên sử dụng máy bay để quảng cáo, đưa tên tuổi Montblanc bay đến với công chúng và đứng ở hàng thứ ba trong bảng xếp hạng những sự kiện thu hút sự chú ý nhất thế kỷ.


Tới năm 1935, trước tình trạng lạm phát gia tăng và tâm lý ngại chi tiêu của khách hàng, Montblanc đã đưa ra tuyên bố bảo hành "suốt đời" cho chiếc bút Meisterstuck, thể hiện sự tự tin của Montblanc cũng như thuyết phục người tiêu dùng tin vào chất lượng tuyệt hảo của những cây bút do hãng chế tạo với ba chiếc nhẫn bằng vàng hoặc bạch kim được chạm khắc trên phần nắp, đuôi và thân bút, Meisterstuck (trong tiếng Đức có nghĩa là "tuyệt tác”) thường được nhắc đến với biệt danh "tàu đô đốc" của hãng Montblanc. Cái tên Meistertuck giống như một thông điệp, một lời hứa về chất lượng của sản phẩm được bảo đảm bởi tay nghề của những nghệ nhân Montblanc kiệt xuất cũng như về thời gian bảo hành không giới hạn của nó. Đi ngược lại với xu hướng cho ra đời các sản phẩm giá rẻ vào thời kỳ hậu chiến, Meistertuck đã đánh bại mọi đối thủ để gặt hái được thành công lớn ngay tức thì. Ở thời điểm đó, cây bút với kiểu dáng thiết kế quyến rũ và đẹp mãi với thời gian này không chỉ được xem là một cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp bút viết mà còn được đánh giá là một biểu tượng của nghệ thuật khi góp mặt trong bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại thành phố New York. Cùng với đó, Meisterstuck còn là cây bút nổi trội thường được sử dụng trong những cuộc ký kết thoả thuận quốc tế quan trọng trên mọi lĩnh vực từ kinh tế tới chính trị hay văn hoá. Nhưng trong dòng sản phẩm này, cây bút xa xỉ nhất phải kể đến là Meisterstuck Solitaire Royal với 4810 viên kim cương nạm quanh thân bút. Mỗi viên kim cương được chế tác với 35 mặt và giá trị của chúng lên tới khoảng 125.000 đô la.



Sau chiến tranh Thế giới thứ II, những tổn thất của Montblanc nhanh chóng được khắc phục. Sản phẩm của họ lúc này đã được sản xuất cả ở Đan Mạch, cùng với sự xuất hiện của nhiều văn phòng đại diện ở nước ngoài. Đồng thời, cùng với dòng sản phẩm truyền thống Meisterstuck, Montblanc xuất xưởng dòng sản phẩm mới 60 Line. Sản phẩm này mau chóng trở thành biểu tượng cho một phong cách thiết kế mới và góp phần vào thành công lớn đầu tiên của họ thời hậu chiến.


Thời kỳ phục hưng và đỉnh cao phát triển



Tới năm 1986, sản phẩm mới "Montblanc - the Art of writing" (Montblanc - Nghệ thuật bút viết) đã được nhà Montblanc cho ra mắt công chúng và được xem là kiểu mẫu lý tưởng cho rất nhiều nhãn hiệu xa xỉ cùng loại. Đây là bước khởi đầu đánh dấu thời kỳ phục hưng của công ty trong những năm 80. Bên cạnh đó, còn có sự góp mặt của bộ sưu tập Meistertuck Solitaire ra đời từ năm 1983. Là phiên bản mới của bộ sưu tập Meistertuck nổi tiếng, Meisterstuck Solitaire bao gồm những sản phẩm bút viết được chế tạo từ những chất liệu quý hiếm như vàng và bạc khối hay bạc mạ vàng.


Đầu thập niên 90 thế kỷ XX, Montblanc bắt đầu bước chân vào thị trường châu Á và điểm đến đầu tiên của hãng là Hồng Kông - nơi Montblanc khai trương cửa hàng đại diện vào năm 1990. Bắt đầu từ năm 1992, Montblanc hướng đến việc sản xuất những sản phẩm với số lượng hạn chế nhằm tôn vinh tên tuổi và tài năng của những nhân vật danh tiếng trong giới nghệ thuật, từ các nhà văn cho tới những nhạc sĩ hay các Mạnh Thường Quân bảo trợ các hoạt động nghệ thuật. Trong số những sản phẩm đó, không thể không kể tới “Lorenzo De Medicil” và "Hemingway"là hai trong số những cây bút mơ ước của rất nhiều nhà sưu tập bút trên thế giới. Đồng thời, trong những năm 90, sự hình thành của một thế giới các sản phẩm cao cấp với nhiều chủng loại đa dạng mang biểu tượng ngôi sao trắng đã làm phong phú thêm cho nhãn hiệu Montblanc. Vậy là, ngoài bút viết, Montblanc còn được biết đến qua các phụ kiện sản xuất thủ công (bộ sưu tập đồ da Meisterstuck dành cho thương gia và khách du lịch), các kiểu kính thời trang, trang sức bạc cao cấp (Meisterstuck Jewellery) và đồng hồ độc quyền Swiss Made được sản xuất tại trụ sở Montblanc Montre S.A ở Le Locle – trung tâm ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ.


Vào năm 2000, sau dịp kỉ niệm 75 năm ngày ra đời những chiếc bút viết đầu tiên của mình, Montblanc đã cho xuất xưởng một bộ sưu tập những sản phẩm mang tên Bohém có quy mô lớn thứ hai sau Meisterstuck, cùng bức thông điệp về sự tận hưởng và niềm đam mê cuộc sống. Cũng trong năm này, còn có sự xuất hiện của bộ sưu tập Meisterstuck Sports với bảy chiếc đồng hồ đa chức năng, sành điệu và khỏe khoắn, là biểu tượng của một sức sống năng động và trẻ trung. Ba năm sau, Montblanc lại có dịp giới thiệu với công chúng thế hệ mới của sản phẩm bút viết StarWalker và bộ sưu tập đồng hồ TimeWalker dành cho khách hàng trên toàn thế giới, những người yêu thích và đánh giá cao các mẫu thiết kế và nghệ thuật điêu khắc thẩm mỹ của hãng. Vào năm 2004, trong phong trào chống nạn mù chữ và nhấn mạnh tầm quan trọng của chữ viết trên toàn thế giới, Montblanc đã kết hợp với Quỹ nhi đồng LHQ UNICEF mời 149 nhân vật danh tiếng của thế giới như Mikhail Gorbachev, Bianca Jagger, Nodja Auermann, Luciano Pavarotti, v.v...viết cảm nghĩ của họ về chủ đề “Tôi thích viết vì...”, bằng cây bút Meisterstuck 149. Lời phát biểu được đính kèm với chiếc bút máy có khắc chữ ký của họ đã được đưa lên eBay đấu giá và tất cả số tiền thu được chuyển trực tiếp tới tổ chức UNICEF. Sau hơn 100 năm kể từ ngày ra đời, những sản phẩm quyến rũ của ngôi sao Montblanc hiện đã có mặt tại 313 cửa hiệu độc quyền và hơn 9000 điểm bán trên những tuyến phố thương mại xa hoa nhất của 70 quốc gia trên thế giới.


Xã hội biến đổi với tốc độ chóng mặt, kéo theo sự thay đổi trong lối sống của con người. Cuộc sống vội vã gấp gáp khiến những tình bạn gắn bó lâu dài và đáng tin cậy cũng trở nên khan hiếm hơn. Hiểu được điều này và luôn mong muốn những sản phẩm của mình sẽ trở thành người bạn thân cận và hữu ích của tất cả khách hàng, từ hơn 100 năm qua, Montblanc đã dấn thân vào cuộc tìm kiếm chất lượng và kinh nghiệm thủ công. Những nguyên tắc bất di bất dịch về kiểu dáng sản phẩm, tay nghề và tính thủ công luôn được thể hiện rõ nét qua mỗi sản phẩm mang biểu tượng ngôi sao sáu cánh. Sự hoàn hảo và tinh tế bậc nhất là khẩu hiệu mà Montblanc hướng đến, là mục đích làm nên những cây bút đỉnh cao nhờ những bàn tay khéo léo, tỉ mỉ cùng những phương thức thiết kế và sản xuất truyền thống.



Bài học từ cú sảy chân của Toyota



Toyota đang bộc lộ những dấu hiệu khủng hoảng quá rõ rệt. Nhà sản xuất xe hàng đầu thế giới học được gì sau cuộc cải tổ của các ông lớn khác trong ngành?





Cách đây chưa đầy hai thập niên, Toyota đã từng vượt mặt General Motors (GM) trở thành nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới và giữ vững vị thế này trong nhiều năm liền. Vậy mà, giờ đây, không ai khác chính Akio Toyoda - vị chủ tịch mới và cũng là cháu nội của người sáng lập tập đoàn - lại tuyên bố tập đoàn đang chao đảo trong vòng xoáy khủng hoảng. Toyota vẫn là một tập đoàn có quy mô vô cùng lớn. Một số người trong ngành và nội bộ tập đoàn cho rằng Akio Toyoda đang nghiêm trọng hóa vấn đề. Tuy nhiên, dù người ta có cố tình chối bỏ thì Toyota vẫn bộc lộ những dấu hiệu khủng hoảng quá rõ rệt.


Khủng hoảng không chỉ là câu chuyện của riêng Toyota mà của toàn bộ ngành công nghiệp sản xuất ô tô. Đó là bài học cho mô hình sản xuất ra những công nghệ vượt trội nhưng lại được cóp nhặt, chắp ghép từ tinh hoa công nghệ của vô số các nhà sản xuất khác. Sai lầm Toyota đang thực sự mắc phải là gì và tập đoàn này cần làm gì để tự cứu lấy mình đều sẽ là bài học quý giá cho các nhà sản xuất khác trong ngành.


Người khổng lồ ngã ngựa


Trong khi các đối thủ trực tiếp của Toyota điển hình là Volkswagen và Hyundai đều đã trụ vững trong khủng hoảng thì Toyota lại để mất hoặc không thể mở rộng thị phần ở tất cả các thị trường trên toàn thế giới ngoại trừ Nhật Bản - thị trường vốn đã bị thu hẹp từ rất nhiều năm trước cuộc khủng hoảng năm ngoái. Tại Mỹ - thị trường vốn đem lại doanh số và lợi nhuận lớn nhất cho hãng - Toyota bị tẩy chay gay gắt sau vụ bê bối cho xuất xưởng những chiếc xe hơi không đạt tiêu chuẩn an toàn.



Hình minh họa. Nguồn: Economist



Tại Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil - những thị trường hứa hẹn tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ - doanh số bán của Toyota cũng bị chững lại. Thậm chí, ngay cả trong lĩnh vực sản xuất xe hơi thân thiện với môi trường, Toyota vốn ở vị trí số một nay cũng đã bị các đối thủ khác bắt kịp bởi nhiều nhà sản xuất xe đồng loạt cho ra đời các dòng xe bảo vệ môi trường trước khi các nhà làm luật áp hàng loạt các quy định lượng khí thải ở mức thấp.


Thật sửng sốt khi trong quý đầu 2009, mức thua lỗ của Toyota còn lớn hơn cả General Motor - một tập đoàn ít lâu sau cực chẳng đã phải tuyên bố phá sản để tái cơ cấu. Đằng sau tất cả những sự việc này, người của Toyota phải thừa nhận một sự thực chua chát rằng mình đang dần để các đối thủ đuổi kịp bởi đối thủ của họ đã cho ra đời những dòng xe có chất lượng đảm bảo và hợp thị hiếu người tiêu dùng trong khi Toyota chỉ biết rập khuôn các sản phẩm hàng loạt hết sức cục mịch và bình thường để phục vụ số đông.


Lời báo động của vị tân chủ tịch dựa trên phân tích của tác giả Jim Collins trong cuốn sách "How Mighty Fall" (tạm dịch là "Người khổng lồ đã gục ngã ra sao?"). Cuốn sách mô tả chi tiết năm giai đoạn dẫn tới sự sụp đổ của một tập đoàn và theo cảnh báo của tân chủ tịch, tập đoàn Toyota đã trượt tới tận mức thứ tư rồi. Theo lời tác giả, các doanh nghiệp đã đến giai đoạn này dẫu sao vẫn tự định đoạt được số mệnh của mình nhưng họ luôn loay hoay trong các kế hoạch tái cơ cấu đầy tham vọng để rồi dần trượt dài tới trạng thái không thể cứu vãn thêm được nữa.


Những lỗi họ thường mắc phải là: nóng lòng tìm kiếm một thương vụ sáp nhập lớn để chuyển đổi doanh nghiệp của mình trong chớp nhoáng, bắt tay vào một dự án cải tổ mạnh mẽ mà bỏ qua mọi thế mạnh vốn có của mình, mất định hướng và rời xa dần triết lý kinh doanh ban đầu bởi tiến hành cải tổ quá gấp gáp, đặt niếm tin vào những chiến lược không có sức thuyết phục chẳng hạn như tham vọng tiến xa về công nghệ hoặc trong kinh doanh, kỳ vọng vào một lãnh đạo có tầm chiến lược nhưng lại không nắm vững về thế mạnh cốt lõi của doanh nghiệp.


Trong khi đó, tác giả Collins lại đề cao những phẩm chất lãnh đạo dù đã cũ nhưng vẫn luôn giữ được giá trị là lòng quyết tâm, tính kỷ luật, điềm tĩnh trước áp lực cùng khả năng đưa ra quyết định có tính chiến lược dựa trên sự cân nhắc thận trọng căn cứ vào thực tế. Thông thường, một người lãnh đạo có khả năng chặn đứng sự suy giảm của doanh nghiệp là một người trưởng thành từ tập đoàn - người biết doanh nghiệp của mình phải làm gì để đồng thời tạo dựng những thế mạnh vững chắc và xác định, khắc phục được các điểm yếu.


Chúng ta có vô vàn ví dụ để dẫn chứng về kinh nghiệm của những doanh nghiệp đã từng kinh qua thời khắc như Toyota hiện giờ. Cuối thập niên 90, cả Hewlett-Packard và Motorola đều ngập trong khủng hoảng và IBM vốn là một tập đoàn đầy uy tín tại Hoa Kỳ cũng trải qua những khó khăn tương tự. Cả ba đều phải đối mặt với bài toán về cách thích ứng trong thời đại Internet.



Nỗ lực để làm mới mình, HP và Motorola đã thuê về một người quản lý mới từ bên ngoài và liên tục tái cơ cấu doanh nghiệp. Cả hai có cùng một hướng giải quyết nhưng lại nhận được hai kết cục khác nhau. May mắn cho HP, tập đoàn này đã có thể thoát khỏi khủng hoảng dưới sự lãnh đạo của Mark Hurd. Mark Hurd có phong cách lãnh đạo hoàn toàn khác với người tiền nhiệm là bà Carly Fiorina - người buộc phải rời khỏi ghế lãnh đạo sau 5 năm làm việc không hiệu quả. Thay vì những kế hoạch sáp nhập và các chiến lược đầy tham vọng, Mark Hurd chú trọng đến việc duy trì tính hiệu quả, khả năng giải quyết vấn đề, cải thiện tình trạng tài chính và quan tâm tới khách hàng. Trong khi đó, Motorola đã không bao giờ gượng dậy được sau bong bóng công nghệ năm 2000 -2001. Giá trị cổ phiếu của tập đoàn đã rớt xuống chỉ còn 1/6 so với lúc đỉnh điểm.


Với IBM, tập đoàn này không những vượt qua khủng hoảng mà còn tạo đựng được cho mình một vị thế mới trên thương trường nhờ việc Lou Gerstner kiên quyết không chia tách tập đoàn giống như lời "mách nước" của các nhà phân tích phố Wall, của thống đốc các ngân hàng đầu tư và một số nhà quản lý cấp cao lúc đó của IBM. Trái lại, Gerstner đã chọn cách dần dần vực dậy tập đoàn từ chính những thế mạnh đã tạo dựng nên danh tiếng của tập đoàn để đưa IBM lên vị trí hàng đầu trong thị trường dịch vụ máy tính. (Một trong những thế mạnh không thể không kể đến kỹ năng tuyệt vời của đội ngũ nhân viên đang làm việc tại đây).


Toyota học được gì từ thất bại của kẻ khác?


Toyota cũng có thể học được nhiều điều từ thất bại của các nhà sản xuất khác trong ngành. Một thập niên trước, Ford cũng tưởng rằng mình đã tìm được vị cứu tinh với sự xuất hiện của chủ tịch Jac Nasser. Vị chủ tịch này khẳng định quyết tâm chuyển đổi tập đoàn từ một nhà sản xuất ô tô kiểu cũ sang một doanh nghiệp năng động, khôn ngoan trong thời đại Internet, hướng tới người tiêu dùng để không ngừng củng cố thương hiệu và dịch vụ cung cấp ra thị trường. Và rồi vị chủ tịch này cũng bị cuốn vào những thương vụ sáp nhập quy mô lớn bằng việc mua lại Volvo và Land Rover.


Nhưng không may, trong khi mải mê theo đuổi cuộc cách mạng đậm chất Nasser, Ford đã dần rời xa mục tiêu ban đầu của mình là tạo ra những phương tiện trang nhã một cách hiệu quả và đem lại lợi nhuận lớn nhất có thể - đó mới chính là triết lý kinh doanh đã làm nên tên tuổi của Ford. Và đó cũng là những gì lúc này, Ford đang nỗ lực vực dậy dưới thời lãnh đạo của Alan Mulally - một nhà lãnh đạo không ồn ào nhưng lại có cách thức lãnh đạo chắc chắn hơn Nasser.


Hơn thế, Toyota cũng đứng trước cơ hội lớn để chỉnh sửa sai lầm. Họ sẽ không phải là một GM thứ hai bởi GM đã lún sâu vào rắc rối về cơ cấu từ rất lâu trước khi phải vin đến cách tuyên bố phá sản để thoát khỏi bế tắc.


Toyota được dẫn dắt bởi một vị chủ tịch biết rõ vấn đề doanh nghiệp đang thực sự vấp phải là gì: đó là việc để rơi mất vị thế hàng đầu về chất lượng vì mải mê chạy theo số lượng bằng mọi giá và việc không còn đặt nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu. Khi nhận ra sai lầm, Toyota đang nỗ lực để lấy lại chất lượng và sự tin cậy của khách hàng. Giờ đây, họ cần tiếp tục cho ra đời những mẫu xe hơi mới đầy cảm hứng và sáng tạo.



Những gì chủ tịch Toyota đang làm hoàn toàn không viển vông. Nó thật đơn giản, hiệu quả và đòi hỏi nhà sản xuất này phải đặc biệt chú trọng đến nhu cầu của người tiêu dùng. Và đó chẳng phải điều cốt lõi trong kinh doanh hay sao?



Marketing thế hệ mới: Trong sáng - minh bạch



"Marketing thế hệ mới cần sự trong sáng và minh bạch; tấn công vào trái tim khách hàng bằng các giá trị tinh thần để kết nối và chăm sóc cộng đồng khách hàng mục tiêu". Đó là nhận định được ông Hermanwa Kartajaya, Chủ tịch Hiệp hội Marketing thế giới, chia sẻ tại hội thảo “Marketing dịch vụ - Làn sóng mới ở châu Á” diễn ra vào cuối tuần.





Phương pháp marketing mới nâng cấp nguyên tắc 4C truyền thống trong marketing thành nguyên tắc 5C mới, trong đó chú trọng yếu tố mới thứ năm là Kết nối (Connect). Hình thức kết nối phải đa dạng, tận dụng được các yếu tố công nghệ và tạo được sự tiện lợi cho khách hàng bằng các hình thức thức truyền thống, qua điện thoại và kết nối xã hội bằng cả phương thức online và offline.


Marketing hiện đại không chỉ là e-marketing (online) như nhiều người quan niệm mà phải là sự kết hợp cả hai phương thức, tức gồm cả marketing truyền thống (offline), để tạo nên sự kết nối trong cộng đồng khách hàng.


Cộng đồng khách hàng được hiểu là những người cùng sử dụng một loại sản phẩm và giữa họ có sự gắn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ví dụ như cộng đồng những người yêu thích xe Harley Davision. Theo ông Hermanwa, các doanh nghiệp cần chú trọng tạo ra sự kết nối với cộng đồng khách hàng và giữa các thành viên trong cộng đồng.


Vị trí đặt quảng cáo


Và quan trọng nhất, để tạo ra và duy trì sự kết nối chặt chẽ với khách hàng, theo các diễn giả tại hội thảo, là phải làm cho khách hàng cảm thấy hạnh phúc.


Marketing đòi hỏi sự sáng tạo, nhưng theo ông Hermanwa, sáng tạo phải đi liền với trung thực. Sáng tạo không phải lúc nào cũng là đi tìm cái mới mà cũng có thể là tìm sự kết hợp giữa những cái cũ. "Cái hay nhất không phải là cái tốt nhất mà là cái phù hợp nhất", ông Hermanwa nhấn mạnh - "sáng tạo kết hợp với trung thực để tạo ra cái xác thực và phù hợp với khách hàng".



Vì vậy, cũng theo ông Hermanwa, công tác huấn luyện người bán hàng là việc làm quan trọng nhất. "Chúng ta không cần những người bán hàng quá năng nổ, hứa hẹn hão để chạy theo chỉ tiêu. Chúng ta cần huấn luyện cho họ biết bán sự khác biệt trong sản phẩm và dịch vụ mà công ty tạo ra. Hãy xem khách hàng là người bạn, không phải là thượng đế, để chúng ta chia sẻ và chăm sóc khách hàng", ông nói.


Biện pháp cụ thể mà ông Hermanwa đưa ra là biến các điểm bán hàng thành một trung tâm cộng đồng, nơi khách hàng và người thân cảm thấy thoải mái, có điều kiện đối thoại và giao lưu sở thích, hỗ trợ lẫn nhau. Và người bán hàng là người kích hoạt cộng đồng khách hàng đó.


Marketing thế hế mới - “Marketing 3.0” - cũng là tiêu đề cuốn sách mà ông Hermanwa viết chung với tác giả Philip Kotler, người được coi là cha đẻ của ngành marketing thế giới. Cuốn sách này sẽ được xuất bản vào đầu năm sau.



Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Người tiên phong trong ngành đào tạo hàng không Mỹ



Sau hơn 7 thập kỷ lao động miệt mài, Albert Lee Ueltschi đã xây dựng thành công công ty chuyên đào tạo nghiệp vụ hàng không FlightSafety International, có quy mô hàng đầu thế giới. Ông đã vươn lên vị trí một trong những người giầu nhất hành tinh hiện nay với số tài sản khổng lồ 1,8 tỷ USD.





Trong danh sách những doanh nhân thành đạt của thế giới đi lên từ niềm đam mê thủa thiếu thời, chúng ta không thể không nhớ tới nhà tỷ phú Albert Lee Ueltschi. Khát khao được bay trên không trung từ khi chưa đầy 10 tuổi, Albert Lee Ueltschi bỏ lại sau lưng tất cả những khó khăn trở ngại của cuộc sống để thực hiện bằng được ước mơ đó.



Bắt đầu từ những đam mê thủa thiếu thời



Là một trong những doanh nhân thành đạt nhất thế giới và cũng là một trong những cây đại thụ của ngành đào tạo hàng không Mỹ, Albert Lee Ueltschi đã có gần như cả cuộc đời gắn bó với ngành hàng không. Albert Lee Ueltschi sinh ngày 15/5/1917 trong một gia đình nông dân có 7 anh chị em tại Franklin County, Kentucky, Mỹ.



Do hoàn cảnh cuộc sống khó khăn nên mặc dù là con trai út trong gia đình như ngay từ khi còn rất nhỏ, Albert Lee Ueltschi đã phải sống trong đièu kiện vất vả. Tuy nhiên, Albert Lee Ueltschi lại có đam mê kỳ lạ đối với những chiếc máy bay và cậu luôn ao ước được một lần bay lên không trung.



Tưởng chừng như đó là những suy nghĩ hiếu kỳ của trẻ nhỏ nhưng đó lại chính là nền tảng để Albert Lee Ueltschi tiến tới thành công ngày nay. Năm 1927, khi đó vừa tròn 10 tuổi, may mắn đã đến với Albert Lee Ueltschi khi cậu được ngồi trên chuyến bay đầu tiên xuyên qua Đại Tây Dương.




Sau chuyến bay đó, niềm đam mê về hàng không không những không giảm mà còn trở nên mãnh liệt hơn. Mơ ước của Albert Lee Ueltschi không chỉ đơn giản là được bay nữa mà cậu đã nghĩ tới việc kiếm đủ tiền để theo học khoá huấn luyện bay và trực tiếp lái máy bay.



Do đó, ngay trong những năm học trung học, Albert Lee Ueltschi đã vay tiền của gia đình để mở một quán đứng bán bánh mỳ hamburger tại cổng trường và lấy tên là White Castle. Với các công việc kinh doanh nhỏ đó, Albert Lee Ueltschi đã phải chắt bóp từng đồng một trong một thời gian dài.



Cũng vì lý do đó, Albert Lee Ueltschi đã bỏ dở việc học tập và xin vào làm trong công ty hàng không Queen City Flying Service và rất tích cực tham gia vào các hoạt động của công ty. Sau những cố gắng đó, Albert Lee Ueltschi đã được nhận vào chương trình đào tạo phi công của Queen City Flying Service.



Tới năm 1941, sau một thời gian làm việc, Albert Lee Ueltschi đã quyết định rời công ty để chuyển tới làm việc tại công ty hàng không uy tín Pan American Airways. Tại đây, Albert Lee Ueltschi đã được người thành lập và cũng là người đứng đầu công ty Juan Trippe nhận làm phi công riêng cho các chuyến bay của mình.



Có được công việc như mong muốn, Albert Lee Ueltschi làm việc rất chăm chỉ đồng thời cũng rất cần mẫn nghiên cứu để tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm hoạt động trong ngành hàng không. Khi còn làm việc tại Pan American Airways, Albert Lee Ueltschi đã phát hiện ra một vấn đề còn thiếu cơ bản đối với hầu hết các hãng hàng không, đó là đội ngũ nhân viên, phần lớn các phi công vẫn còn chưa được đào tạo bài bản do thiếu môi trường đào tạo.




Mặt khác, sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nhiều loại máy bay quân sự đã được bán cho các công ty hàng không dân dụng và được cải tạo để sử dụng, tuy nhiên, máy bay thì nhiều nhưng đội ngũ phi công lại thiếu. Vì vậy, ngay lập tức những ý tưởng về việc thành lập một công ty chuyên đào tạo nhân lực cho các hãng hàng không đã xuất hiện trong đầu Albert Lee Ueltschi.

Nhờ có được sự ủng hộ của người đứng đầu công ty, Albert Lee Ueltschi đã có được điều kiện thuận lợi để thực hiện ý tưởng này.



Phát triển FlightSafety



Được thành lập từ năm 1951, từ một trung tâm đào tạo quy mô nhỏ, phát hiện thấy nhu cầu đào tạo nhân lực ngày càng cao của ngành hàng không, Albert Lee Ueltschi đã có được những chiến lược kinh doanh hợp lý và đã phát triển FlightSafety thành một trong những công ty đào tạo hàng không hàng đầu của Mỹ và thế giới.



Qua các chương trình đào tạo ngày càng được mở rộng, hàng năm, FlightSafety International đã tiếp nhận hàng chục nghìn học viên theo học ở các chuyên ngành, từ đào tạo phi công cho các công ty hàng không dân dụng, phi công phục vụ cho không quân Hoa Kỳ cho tới các chuyên ngành kỹ thuật sửa chữa và dịch vụ. Chỉ tính riêng trong năm 2006, FlightSafety International đã tổ chức được hơn 1 triệu giờ đào tạo bay cho học viên.




Khi mới được thành lập, FlightSafety chỉ là một công ty có quy mô nhỏ với một số lượng nhân lực và trang thiết bị còn hạn chế, mặc dù vậy, sự xuất hiện của FlightSafety đã tạo nên bước đột phá vào thị trường đào tạo nhân viên hàng không chưa được khai thác. Trong bối cảnh nửa sau thập niên 40, thế chiến thứ II kết thúc đã tạo ra những khó khăn chồng chất cho các ngành công nghiệp dịch vụ, trong đó có ngành đào tạo nghiệp vụ hàng không.



Sau khi thành lập FlightSafety, Albert Lee Ueltschi đã tập trung vào khâu tuyển chọn nguồn nhân lực cho công ty. Dựa trên thế mạnh đã từng làm việc tại ngành hàng không, có mối quan hệ với nhiều phi công, một mặt Albert Lee Ueltschi trực tiếp mời những phi công có thâm niên trong nghề đang làm việc tại các hãng hàng không của Mỹ về làm công tác giảng dạy ngoài giờ.



Mặt khác, chiến tranh kết thúc cũng là lúc có nhiều phi công trước đây đã được đào tạo đặc biệt trong các trường quân sự đã xuất ngũ, Albert Lee Ueltschi đã tranh thủ tuyển chọn được cho FlightSafety một lượng khá đông giáo viên lành nghề.



Với tham vọng xây dựng cho FlightSafety một cơ sở vật chất vững chắc ngay từ đầu, trong những năm đầu mới bước vào hoạt động, Albert Lee Ueltschi đã không ngần ngại đầu tư rất lớn vào xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị cho FlightSafety.



Từ khoản tiền tích góp được sau 17 năm làm việc trong ngành hàng không cho tới khoản tiền vay thế chấp nhà ở của mình, Albert Lee Ueltschi đều đầu tư tất cả vào công ty. Rất nhiều loại trang thiết bị của các nhà sản xuất Eastman Kodak, Burlington Industries, National Distillers đã được Albert Lee Ueltschi cho nhập về.




Bên cạnh những trang thiết bị đào tạo được mua mới, Albert Lee Ueltschi còn triệt để tận dụng những trang thiết bị cũ nhưng còn rất hiệu quả của quân đội được bán thanh lý sau chiến tranh. Một trong số đó là khoản đầu tư trị giá 69.750 USD của Albert Lee Ueltschi vào chương trình mua thiết bị đào tạo lái cho phi công mang tên Link Trainer. Đây là loại thiết bị đào tạo bay chuyên dụng sử dụng các dữ liệu mô phỏng đã được sử dụng để đào tạo phi công cho thế chiến thứ II. Ngoài các chức năng thông thường, Link Trainer còn được trang bị hệ thống đào tạo nhân viên điều khiển mặt đất đối với các loại máy bay vận tải hoạt động trong đêm.



Nhờ tạo được uy tín vững chắc đối với nhiều hãng hàng không, đồng thời là địa chỉ tin cậy của học viên hàng không, trong nhiều năm liên tiếp từ thập niên 50 cho tới những năm 70, FlightSafety không những đã duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định mà còn cho thấy những triển vọng phát triển rất lớn tại thị trường đào tạo hàng không.



Cũng trong thời điểm FlightSafety phát triển mạnh mẽ đó, bằng uy tín và sự khéo léo của mình, Albert Lee Ueltschi đã rất thành công trong việc thiết lập quan hệ với các nhà sản xuất máy bay và nhận về những bản hợp đồng đào tạo phi công phục vụ cho các thế hệ máy bay mới xuất xưởng với mức giá phải chăng.



Đặc biệt, sau những vụ tai nạn máy bay dân dụng gây ra những tổn thất lớn, các hãng hàng không đã trở nên đặc biệt quan tâm tới vấn đề đào tạo nguồn nhận lực và không ai khác, chính FlightSafety là một trong những địa chỉ đáng tin cậy nhất.



Ví dụ điển hình nhất là công ty hàng không Learjet, sau khi hai máy bay của hãng liên tiếp gặp tai nạn, Learjet đã ngay lập tức liên kết với FlightSafety để thực hiện các chương trình đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ phi công của mình. Tổng cộng trong những năm 70, FlightSafety đã có được 12 bản hợp đồng lớn với các hãng hàng không và các nhà sản xuất máy bay trong đó có cả Airbus Industrie ở Pháp, Boeing của Mỹ.



Song song với những chương trình đào tạo cho nhân viên các hãng hàng không, Albert Lee Ueltschi còn trực tiếp tổ chức các khoá đào tạo cho những người có điều kiện mua máy bay riêng nhưng chưa biết lái ngay tại các trung tâm của FlightSafety.




Đưa FlightSafety International Inc đến với thế giới



Bước vào giai đoạn khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, các hãng hàng không liên tục cho ra những thế hệ máy bay mới đã nhanh chóng tạo ra cho Albert Lee Ueltschi cơ hội mở rộng thị trường. Để đáp ứng với tình hình phát triển của thời cuộc, Albert Lee Ueltschi đã đổi tên công ty từ FlightSafety thành FlightSafety International, Inc đồng thời mở rộng các chi nhánh cũng như lĩnh vực hoạt động ra các quốc gia khác trên thế giới.



Sau những bản hợp đồng lớn với các hãng hàng không Texaco, Air Force, Trans World Airlines, Asian airlines, Latin American airlines, Air Afrique, All Nippon Airways, Asiana Airlines of Korea, Swissair, Australia’s Tyrolean Airways, Air France affiliates, Air Inter... FlightSafety International, Inc đã đồng loạt xây dựng được một mạng lưới các chi nhánh, trung tâm đào tạo nhân lực hàng không từ Dallas, Texas, Arizona, Daleville, Alabama, Texas cho tới Hong Kong, London, Manchester...




Với quy mô hoạt động ở hầu hết các khu vực trên thế giới, ngoài lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ hàng không cơ bản vẫn được duy trì như một thế mạnh của mình, Albert Lee Ueltschi còn mở rộng FlightSafety International, Inc sang hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau như chuyên ngành sửa chữa, điều khiển mặt đất, các thao tác và kỹ năng cơ bản phục vụ hành khách, bảo hiểm.



Trong đó, chương trình được Albert Lee Ueltschi tập trung khai thác nhiều nhất là đào tạo những kỹ năng bảo đảm an toàn hàng không. Bằng các trang thiết bị hiện đại và đội ngũ giảng viên trình độ cao, các học viên của khoá đào tạo của FlightSafety International, Inc ngoài việc có đủ khả năng vận hành các loại phi cơ còn có thể hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ rủi ro cho các chuyến bay.



Hiện nay, FlightSafety International, Inc đã trở thành một trong những công ty đào tạo nghiệp vụ hàng không hàng đầu thế giới với tầm hoạt động ở trên hơn 40 quốc gia, sử dụng hàng chục nghìn nhân viên làm việc tại hàng trăm chi nhánh. Theo ước tính, hàng năm FlightSafety International, Inc đào tạo được 75.000 học viên hàng không, trong đó học viên quân sự phục vụ cho quân đội lên tới 14.000 người.



Từ những khoản doanh thu và những khoản lợi nhuận khổng lồ hàng năm lên tới hàng chục tỷ Đô la, số tài sản cá nhân của Albert Lee Ueltschi cũng không ngừng tăng theo thời gian.


(Nguồn: Báo điện tử - Thời báo Kinh tế VN)



Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

5 cách bảo mật khi sử dụng Google Apps



Bảo mật là một trong những mối quan tâm lớn nhất đối với các chủ doanh nghiệp khi quyết định sử dụng dịch vụ trực tuyến như các ứng dụng của Google (dưới đây gọi tắt là Google Apps).



Vậy, những cách tốt nhất bảo vệ cho chính mình như thế nào?





Amit Agarwal là một blogger chuyên nghiệp và là cây bút phụ trách về công nghệ . Anh ấy hiện là chủ nhận của blog có tên "digital inspiration" (tạm dịch là Cảm hứng số), một blog về công nghệ hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, tuần này anh ấy đã bị hack [là hành động có chủ đích nhằm làm thay đổi trạng thái hoạt động hay làm cho hệ thống không được nguyên vẹn ban đầu như trạng thái vốn có của nó]. Anh ấy đã chia sẻ trên blog của mình những lời khuyên hữu ích giúp bạn tránh được những hành động tương tự.



Amit cho biết anh thường nhận được những yêu cầu giả về thay đổi mật khẩu. Tuần này cũng vậy, anh nhận dược yêu cầu tương tự, nhưng anh đã bỏ qua. Mấy phút sau anh lại nhận được các thông báo lỗi. Và anh đã bị ăn cắp tài khoản.



Amit đã bị hack. Anh ấy nghĩ răng hacker [người thực hiện hành động hack] đã truy cập vào email dự phòng (backup email) mà anh đã thiết lập cho các tài khoản của mình.



Amit đã khôi phục được dịch vụ của mình sau ba giờ, sau khi anh gọi điện đến cho Google. Anh thấy bớt căng thẳng, tuy nhiên cũng cảm thấy trống rỗng khi bất chợt nghĩ rằng mình không thể kiểm soát được chính những tài khoản của mình.



Để giúp người khác tránh được những thảm cảnh tương tự, Amit đã tóm tắt 5 điểm chính giúp bạn có thể phòng tránh:



1. Đăng nhập vào tải khoản Gmail của bạn và gắn cho nó một số điện thoại: Đó là một cài đặt đơn giản. Bạn sẽ nhận được xác nhận qua SMS. Nếu bạn bị tấn công, một thông báo sẽ chuyển đến bạn cho bạn biết có ai đó đang cố gắng lấy cắp mật khẩu của bạn.



2. Tạo một địa chỉ email mới: Tạo email làm dự phòng và là email thứ hai cho tài khoản Google Apps của bạn. Lời khuyên: đừng thiết lập tự động chuyển email của bạn.



3. Viết ra: Viết và ghi nhớ thông tin xác nhận phòng trường hợp bạn bị hack và email dự phòng bạn đã lập.


4. Kiểm tra! Đăng xuất tài khoản Gmail / tài khoản Google. Bắt đầu quá trình khôi phục password. Điều này đảm bảo những gì bạn đã thiết lập vận hành chính xác.



5. Kiểm tra địa chỉ IP của bạn: Luôn kiểm tra địa chỉ IP ở phía cuối cùng hòm thư Gmail của bạn. Nếu phát hiện thấy có một địa chỉ sai khác, hãy đổi ngay password. Việc xác định địa chỉ IP có thể hơi khó về mặt kỹ thuật, nhưng điều đó rất tốt nếu bạn biết.



Mong rằng những lời khuyên của Amit sẽ giúp chúng ta bảo mật tốt hơn các tài khoản Google Apps của mình.


Dịch thuật Việt theo ReadWriteWeb.



Vị thủ lĩnh thổi bùng thương hiệu McDonald



Ray Kroc đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt ngành công nghiệp ăn uống của Mỹ và khiến McDonald trở thành thương hiệu có một không hai.





Nhận thức đúng tầm quan trọng của marketing


McDonald không chỉ phổ biến ở trong nước Mỹ mà còn nhanh chóng có được những thành công trên thị trường quốc tế như Canada, Nhật Bản, Australia và Đức. Ngày nay, có khoảng 1,5 triệu người làm việc cho McDonald trên toàn thế giới. Khởi đầu McDonald chỉ là một hiện tượng của nước Mỹ nhưng nay nó đã trở thành một thương hiệu quốc tế đích thực.


McDonald là thương hiệu có tốc độ tăng trưởng lớn nhất và thống lĩnh thị trường đồ ăn nhanh ở 120 nước trên 5 châu lục. McDonald hoạt động với trên 29.000 cửa hàng trên toàn thế giới. Chỉ có một vài thương hiệu có thể đem ra so sánh với McDonald.

Tuy nhiên, McDonald vẫn được đánh giá là thương hiệu mạnh nhất theo nghiên cứu của Interbrand, công ty tư vấn thương hiệu hàng đầu trên thế giới. Interbrand đã kết luận rằng: “Không có một thương hiệu nào có thể đem ra so sánh với McDonald về ý tưởng xây dựng thương hiệu, cách thực hiện và sức hấp dẫn kéo dài, lan rộng nhanh chóng của nó. McDonald là một thương hiệu Mỹ chinh phục toàn thế giới với sức mạnh của hai yếu tố khá là khác biệt – văn hóa và thương mại”.



Đối với khách hàng thì McDonald là một thương hiệu “đáng tin cậy”, luôn luôn đặt khách hàng ở vị trí trung tâm và luôn biết cần phải làm những gì.


Ngay từ những ngày đầu tiên, McDonald đã nhận ra tầm quan trọng của marketing trong quá trình xây dựng thương hiệu. Marketing là một nét đặc trưng của McDonald. Cho tới tận bây giờ, số tiền đầu tư vào quảng cáo và khuyến mãi của McDonald luôn chiếm một tỉ lệ cố định trong doanh thu của các cửa hàng.


Ngoài việc quảng cáo trên tivi để tạo được sự thiện cảm của khách hàng, McDonald còn tham gia tài trợ cho các chương trình thể thao, đặc biệt là các sự kiện thể thao có uy tín trên thế giới như World CupOlympic Games để củng cố thêm sức mạnh tầm cỡ quốc tế của thương hiệu, ngoài ra McDonald còn tham gia các chương trình tài trợ khác nhau tùy theo từng khu vực.



Thêm vào các chiến dịch quảng cáo và khuyến thị của từng quốc gia, McDonald còn cam kết một cách chắc chắn với niềm tin mạnh mẽ của Ray Kroc rằng McDonald sẽ có những đóng góp vào việc xây dựng cộng đồng với các hoạt động địa phương khác nhau, từ các hoạt động buổi sáng dành cho người già tới việc gây quỹ cho các trường học và bệnh viện…


Mọi chuyện bùng lên từ Ray Kroc


Câu chuyện của McDonald bắt đầu từ khoảng 50 năm trước đây ở San Bernadio, bang California. Ray Kroc là một người bán hàng, chuyên cung cấp sữa cho một cửa hàng thức ăn phục vụ lái xe và khách hàng qua đường của hai anh em Dick và Mac McDonald.


Cuối năm 1954, Ray Kroc đã ghé thăm trụ sở của hãng McDonald tại California và cố gắng thuyết phục anh em nhà Donald nhượng quyền kinh doanh lại cho mình. Sau nhiều lần thuyết phục, cuối cùng anh em nhà Donald đã quyết định bán McDonald cho Ray Kroc với giá 2,7 triệu USD tiền mặt.
Ngay lập tức, Ray Kroc đã quyết định dùng tài sản thành lập công ty Franchise Realty, một công ty trực thuộc McDonald, lấy việc mua những dải đất rộng đem cho thuê nhằm một mục đích phát triển mô hình franchising (nhượng quyền kinh doanh).

Bằng việc thực hiện kế hoạch này, McDonald đã bắt đầu gây dựng được cho mình những nguồn thu nhập đáng khích lệ và công ty Franchise Realty của Ray Kroc cũng đã bắt đầu cất cánh. Đến năm 1960, đã có hơn 200 điểm bán hàng của McDonald trên khắp nước Mỹ. Năm 1961, trên 100 triệu chiếc hambuger đã được bán.



Tiếp đó, Ray Kroc dành một khoản tiền đáng kể cho chương trình quảng cáo có tầm cỡ quốc gia nhằm hỗ trợ cho việc kinh doanh của những cửa hàng franchise đang mọc nhanh như nấm trên khắp đất Mỹ. Năm 1970, khi tình hình kinh doanh của công ty mẹ tại Mỹ bị suy giảm, Ray Kroc lại bắt đầu một chiến dịch mới đầy quyết tâm và đã thành công trong việc thúc đẩy sự có mặt của thương hiệu McDonald trên toàn thế giới.


Trong những năm được coi là thời kỳ hoàng kim của mình, Ray Kroc, người đặt nền móng và cũng là người phát triển tập đoàn McDonald thành một người khổng lồ trong ngành công nghiệp Mỹ đã chứng minh được ông chính là người đi tiên phong trong một lĩnh vực công nghiệp mới, không thua kém gì Henry Ford trong ngành công nghiệp ôtô.



Sự thành công của McDonald là một mẫu điển hình cho các doanh nhân ngày nay nhằm đạt đuợc những hiệu quả kinh doanh lớn hơn. Bằng việc đưa những cây xúc xích hambuger tầm thường lên dây chuyền máy móc, Ray Kroc đã chỉ cho thế giới biết cách áp dụng quy trình quản lý tinh xảo vào những công việc tưởng như tầm thường nhất. Món hambuger một thời bị coi thường thì giờ đây đã có mặt trên máy bay, tầu hoả, ôtô và trở thành một nét văn hóa Mỹ.


Mặc dù từ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị vào năm 1978 để nhường bước cho Fred Turner, Ray Kroc vẫn được coi một biểu tượng vĩ đại trong lịch sử McDonald và có ảnh hưởng lâu dài tới hoạt động hàng ngày của McDonald. Từ văn phòng ở California, Ray Kroc vẫn rà soát lại kết quả kinh doanh trong ngày đầu tiên của các nhà hàng mới mở, vẫn tiếp tục theo dõi hoạt động của các nhà hàng thuộc sở hữu của McDonald.



Mặc dù rất thành đạt với tài sản cá nhân trước lúc chết lên đến trên 350 triệu USD, Ray Kroc luôn quan tâm tới công việc. Mỗi khi Ray Kroc ra đường, ông bắt tài xế đưa tới ít nhất 6 nhà hàng McDonald để bất ngờ kiểm tra. Ray Kroc qua đời vào tháng 1 năm 1984, ở tuổi 81, đúng mười tháng trước khi McDonnald bán chiếc hambuger thứ 50 tỷ.

Có thể nói, Ray Kroc đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt ngành công nghiệp đồ ăn uống của Mỹ bằng việc sản xuất hambuger, khoai tây chiên, và các chế phẩm từ sữa. Ông đã khiến McDonald trở thành thương hiệu hàng hoá có một không hai cho đồ ăn nhanh nước Mỹ.